Video TikTok từ Thu Trang Nguyễn (@thutrangng1012): "tặng chị em quy trình chăm sóc da chuẩn y khoa ☺️#thutrangng1012#xuhuongtiktok". nhạc nền - Thu Trang Nguyễn.
- Hòa thức ăn thành dạng sền sệt rồi bôi lên mép, miệng lợn con, đầu vú lợn mẹ vài lần sẽ làm cho lợn con quen dần với mùi thức ăn và sẽ tìm đến nơi có thức ăn. - Cố định nơi để máng ăn để lợn con quen chỗ ăn. Cho lợn ăn 5 - 6 bữa/ngày, mỗi lần cho ăn nên để máng ăn 2-3h rồi bỏ ra vệ sinh sạch sẽ, 1-2h sau lại cho thức ăn mới vào.
Ước tính 9 tháng năm 2022 (so với chính thức năm trước): diện tích rừng trồng được chăm sóc 701,81 ha, giảm 27,25% do nguồn kinh phí của tỉnh bị cắt giảm nên diện tích rừng được chăm sóc từ năm thứ 5 trở đi không có kinh phí để chăm sóc, nên chỉ tập trung chăm sóc
Chủ nuôi cần tạo điều kiện chăm sóc và quản lý heo con theo heo mẹ, đảm bảo vệ sinh chuồng trại luôn sạch sẽ, khô ráo và nhiệt độ, độ ẩm ổn định để chống lạnh. Đồng thời, việc cắt đuôi, bấm răng hay thiến cũng phải thực hiện theo khoảng thời gian nhất định và sát trùng sạch sẽ cẩn thận.
Nặn núm vú xuất hiện 1 vài giọt sữa non tầm 6-8 tiếng mới đẻ. Vuốt bầu vú mà sữa non chảy thành tia tầm 1-2 tiếng đẻ Nhìn hoa thấy nước nhờn, thấy viên cứt su chảy ra cùng nước ối 30'- 1 tiếng mới đẻ. Nằm nghiêng 1 bên, chân co lên, bụng gồng lên, đuôi ngoắc lên theo từng đợt cơn rặn đẻ. Vài phút nữa đẻ.
Kỹ thuật làm vắc xin cho heo con, chế độ ăn uống và thực phẩm chức năngBà con bấm vào link sau để xem nội dung chi tiết: chan-nuoi-l
rq9Z4dx. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM--NGUYỄN PHƯƠNG THẢOTên đề tài“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SĨC, NI DƯỠNG VÀ PHÒNGTRỊ BỆNH CHO LỢN CON THEO MẸ, GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINHĐẾN CAI SỮA TẠI TRẠI LỢN GIỐNG CAO SẢN CƠNG TY CỞPHẦN DINH DƯỠNG HẢI THỊNH”KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCHệ đào tạo Chính quyChuyên ngành Dược thú yKhoa Chăn ni thú yKhóa học 2014 - 2018Thái Ngun, năm 2018 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM--NGUYỄN PHƯƠNG THẢOTên đề tài“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SĨC, NI DƯỠNG VÀ PHÒNGTRỊ BỆNH CHO LỢN CON THEO MẸ, GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINHĐẾN CAI SỮA TẠI TRẠI LỢN GIỐNG CAO SẢN CƠNG TY CỞPHẦN DINH DƯỠNG HẢI THỊNH”KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCHệ đào tạo Chính quyChuyên ngành Dược thú yLớp K46-Dược Thú YKhoa Chăn ni thú yKhóa học 2014 – 2018Gỉang viên hướng dẫn ThS. Lê Minh ToànThái Nguyên, năm 2018 iLỜI CẢM ƠNQua thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông LâmThái Nguyên và trong suốt 6 tháng thực tập tốt nghiệp, tôi đã nhận đượcsự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của BCN khoaChăn nuôi Thú y, và trang trại chăn nuôi giống cao sản của công ty HảiThịnh. Ngoài ra, cùng với sự nỗ lực của bản thân tơi cịn nhận được sựcộng tác nhiệt tình của nhân viên, công nhân trong công ty, sự giúp đỡ,cổ vũ động viên của bạn bè, người thân. Nhờ vậy, tôi đã hoàn thành tốtđợt thực tập tốt dịp này tơi xin được bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới thầy Lê Minh Tồn đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiệnđề tài và hồn thành khóa luận xin cảm ơn BCN khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện thuậnlợi và cho phép tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp đại xin chân thành cảm ơn tới ban lãnh đạo cùng tồn thể cán bộcơng nhân viên tại Cơng ty Hải Thịnh , đặc biệt là quản lý trại lợn giốngHải Thịnh trú tại thôn Đồng Tâm - xã Thường Thắng - huyện Hiệp Hịa tỉnh Bắc Giang, cùng tồn thể anh chị em công nhân trong trang trại vềsự hợp tác giúp đỡ theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở chokhóa luận cảm ơn gia đình, bạn bè đã ln động viên giúp đỡ, tạo điềukiện thuận lợi để em hoàn thành tốt q trình thực tập tốt luận tốt nghiệp của em khơng thể tránh khỏi những thiếu sót,em kính mong qúy thầy cơ xem xét, góp ý và bổ sung, để bài khóa luậncủa em được hồn thiện lần nữa em xin chân thành cảm ơn!Thái Nguyên, ngàytháng năm 2018Sinh viênNguyễn Phương Thảo iiDANH MỤC CÁC BẢNGTrangBảng Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh của lợn con ..................................... 18Bảng Cơ cấu đàn lợn của trại Lợn giống cao sản, huyện Hiệp Hòa, tỉnhBắc Giang từ năm 2016 đến tháng 11 - năm 2018......................................... 31Bảng Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến cai sữa .............................. 33Bảng Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại .................................... 34Bảng Kết quả tiêm phòng thuốc và vắc xin cho lợn con theo mẹ từ sơsinh đến cai sữa ............................................................................................... 35Bảng Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến cai sữa ................ 36Bảng Kết quả điều trị bệnh bệnh cho đàn lợn giai đoạn từ sơ sinh đến caisữa trong thời gian thực tại cơ sở ................................................................... 37Bảng Kết quả thực hiện những công việc khác trong thời gian thực tập tạicơ sở ................................................................................................................ 38 iiiDANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮTTừ viết tắtNghĩa của từBCN Ban chủ nhiệmCS Cộng sựMg2+ Magie 2+Nxb Nhà xuất bảnPr ProteinSS Sơ sinhSTT Số thứ tựTP Thành phốTT Thể trọngUBND Uỷ ban nhân dân ivMỤC LỤCTrangLỜI CẢM ƠN ................................................................................................... iDANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ iiDANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ....................................................... iiiPHẦN 1 MỞ ĐẦU ........................................................................................... Đặt vấn đề................................................................................................... Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề ........................................................... Mục tiêu của chuyên đề........................................................................... Yêu cầu của chuyên đề............................................................................ 2PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................ Điều kiện cơ sở nơi thực tập ...................................................................... Quá trình thành lập và phát triển của trại ................................................ Đánh giá chung ....................................................................................... Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... Một số hiểu biết về lợn con ..................................................................... Một số bệnh thường gặp ở lợn con. ...................................................... Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con.............................. Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ ................................ Tình hình nghiên cứu trong nước và ngồi nước ..................................... Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... Tình hình nghiên cứu ngồi nước ......................................................... 21PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... Nội dung thực hiện ................................................................................... 23 Thực hiện quy trình chăm sóc, ni dưỡng lợn con sơ sinh đến 21 ngàytuổi ................................................................................................................... Chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con theo mẹ tại trại.............. Nội dung tiến hành và các chỉ tiêu theo dõi ............................................. Nội dung tiến hành ................................................................................ Phương pháp xử lý số liệu....................................................................... 30PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ..................................................... Tình hình chăn ni tại trại ...................................................................... 31Cơ cấu đàn lợn nuôi tại cơ sở trong 3 năm gần đây....................................... Kết quả thực hiện q trình chăm sóc, ni dưỡng cho đàn lợn giai đọantừ sơ sinh đến cai sữa tại cơ sở........................................................................ Kết quả thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn giaiđọan từ sơ sinh đến cai sữa trong thời gian thực tập tại cơ sở ........................ Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh ............................................. Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn sơ sinh đến cai sữa ............. Kết quả chẩn đoán bệnh............................................................................. Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn giai đọan từ sơ sinh đến cai sữa tại cơsở trong thời gian thực tập .............................................................................. Kết quả thực hiện các công tác khác tại cơ sở thực tập ........................... 38PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ........................................................... Kết luận .................................................................................................... Đề nghị ..................................................................................................... 41TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 42PHỤ LỤC 1PHẦN 1MỞ Đặt vấn đềTrong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triểnmạnh mẽ, nhờ đó mà đời sống nhân dân được cải thiện. Vì vậy, nhu cầu về sảnphẩm trong chăn nuôi ngày càng Nam là một trong những nước có sảnlượng thịt tiêu thụ bình qn đầu người khơng ngừng tăng lên qua các năm vớimức tăng trưởng khoảng 21,19%/năm. Tính đến năm 2013, mỗi người Việt Namtiêu thụ 39,3 kg thịt hơi, chủ yếu là các sản phẩm từ chăn ni lợn. Cũng chính vìlẽ đó, ngành chăn nuôi nước ta cũng tăng nhanh cả về số lượng và chất giống gia súc, gia cầm được lai tạo, du nhập vào sản xuất đã đem lại nhiềulợi nhuận. Chăn nuôi đã thực sự trở thành nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ giađình đồng thời đã thúc đẩy sự phát triển của một số ngành công nghiệp liên quannhư chế biến thực phẩm, sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, công nghiệpthuộc da, lông vũ…Chăn nuôi lợn là một trong những mũi nhọn của ngành chăn ni nướcta, đóng một vị trí quan trọng và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Thịt lợn là nguồnprotein động vật có giá trị phục vụ cho nhu cầu của con người, nó khơng chỉcung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đáp ứng nhu cầu thực phẩm choxã hội mà còn là nguồn thu nhập đáng kể cho người chăn ni. Ngồi ra, chănni lợn cịn cung cấp một lượng lớn phân bón cho trồng trọt và thủy sản. Cóthể nói ngành chăn ni lợn đã đóng góp một phần đáng kể vào cơng tác xóa đóigiảm nghèo, ổn định đời sống xã hội và thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung củađất Cục Chăn ni, hiện nước ta có đàn lợn khoảng 29 triệu con, đứngđầu ASEAN, đứng thứ 2 ở châu Á, nằm trong top 15 nước có đàn lợn lớn nhấtthế giới. Tốc độ tăng trưởng đàn lợn; giai đoạn 2007 – 2017 đạt 0,91%/năm. Sảnlượng thịt lợn trong năm 2016 đã đạt mức kỷ lục với 3,36 tấn, tăng 5% so với 2năm 2015 và đứng thứ 7 trên thế giới sau Trung Quốc, Mỹ, Đức, Tây Ban Nha,Braxin và Nga Hà Ngân, 2017 [14]Để có được kết quả trên ngồi việc tăng nhanh số đầu lợn, ngành chăn nuôilợn nước ta đã và đang từng bước đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tếsản xuất, từ khâu cải tạo con giống, nâng cao chất lượng thức ăn đến việc hồnthiện quy trình chăm sóc và ni nhiên để thịt lợn có thể nâng cao sức khỏe cho con người, điều quantrọng là q trình chọn giống, ni dưỡng, chăm sóc và phịng trị bệnh cho lợn từlúc sơ sinh đến lúc xuất bán, đàn lợn phải khỏe mạnh, sức đề kháng cao, cácthành phần dinh dưỡng tích lũy vào thịt có chất lượng và có giá trị sinh học tiến hành thực hiện chuyên đề “Thực hiện quy trình chăm sóc ni dưỡngvà phịng trị bệnh cho lợn con theo mẹ, giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa tạitrang trại lợn giống cao sản công ty cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh”. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên Mục tiêu của chuyên đề- Nắm được tình hình chăn ni tại trang Tìm hiểu quy trình chăm sóc ni dưỡng cho lợn con nuôi tại Biết được các loại thức ăn dành cho lợn con, khẩu phần ăn và cách cholợn con ăn qua từng giai Biết được các bệnh hay xảy ra đối với lợn con và phương pháp phòng trịbệnh hiệu quả Hoàn thiện thêm kỹ năng, tay nghề trong thời gian thực Yêu cầu của chuyên đề- Thực hiện tốt các nội quy, quy định của cơ sở, của khoa và nhà Vận dụng kiến thức lí thuyết đã học vào thực tiễn sản Tích cực tham gia các cơng việc khác được phân công. 3PHẦN 2TỔNG QUAN TÀI Điều kiện cơ sở nơi thực Quá trình thành lập và phát triển của Quá trình thành lậpTrại lợn giống cao sản nằm trên địa phận thơn Đống Vịng, xã Tình hình sản xuất chăn ni của trang trại* Cơng tác chăn niNhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiếnbộ khoa học kỹ thuật. Ngồi ra trại cịn khai thác tinh bán cho các hộ chăn nuôinhỏ quanh khu vựa nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,25 - 2,3 lứa/năm. Sốcon sơ sinh là 12con/đàn; số con cai sữa là 10,5 con/đàn; lợn con theo mẹ đượcnuôi đến cai sữa sớm nhất là 18 ngày, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành caisữa và chuyển sang chuồng úm. Sau đó chuyển sang các trại chăn ni trại cịn ni 19 con lợn đực giống với mục đích kích thích độngdục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo. Tinh lợn được khai tháctừ giống lợn Duroc, Landrace, Yorkshire nhưng chủ yếu là nái được phối 3 làn và được luân chuyển giống như lợn đựcThức ăn cho lợn là thức ăn hỗn hợp hồn chỉnh có chất lượng cao, đượcCông ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh cấp cho từng đối tượng lợn của trại.* Công tác phịng và trị bệnh của trạiQuy trình phịng bệnh cho đàn lợn tại trại được thực hiện nghiêm ngặt,chặt chẽ. Trong chăn ni việc phịng bệnh là rất quan trọng nhằm nâng cao sứcđề kháng không đặc hiệu cho đàn Cơng tác vệ sinh Vệ sinh phịng bệnh là cơng tác rất quan trọng. Nó cótác dụng tăng sức đề kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, hạnchế những bệnh có tính chất lây lan từ đó phát huy tốt tiềm năng của vì vậy hệ thống chuồng trại được xây dựng thống mát về mùa Hè, mùa 6Đông được che chắn cẩn thận, xung quanh các dãy chuồng ni đều trồng câyxanh tạo độ thơng thống và mát tự nhiên. Trước cửa vào các khu có rắc vơi bộttừ đó hạn chế được rất nhiều tác động của mầm bệnh bên ngoài sinh chuồng trại,thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, phun thuốc sát trùng và rắc vôitheo quy định. Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôiđều phải sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao dọn vệ sinh ở chuồng hở cũng được thực hiện hai lần mỗi ngày vàođầu buổi sáng và cuối buổi chiều. Việc quét dọn hành lang trong chuồng cũngđược vệ sinh thường xuyên và rắc vôi bột hoặc qt vơi định kì 1 tuần 1 lần, kếthợp với dọn vệ sinh xung quanh chuồng trại và tiêu diệt chuột. Các chuồng lợnđã bán hết và chờ nhập lứa mới cũng được rửa sạch, để khô rồi phun thuốc sáttrùng tiêu độc, quét vôi và để trống chuồng 1 tuần rồi mới cho lứa khác Cơng tác phịng bệnh Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa cácchuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, cácphương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào. Quytrình phịng bệnh bằng vắc xin ln được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúngkỹ thuật. Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng. Lợn được tiêm vắc xinphòng phải ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc ni dưỡng tốt, khơng mắc cácbệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốtnhất cho đàn lợn. Tỷ lệ tiêm phịng vắc xin cho đàn lợn ln đạt 100%.- Cơng tác trị bệnh Cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đànlợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được phát hiện sớm,cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trongmột thời gian ngắn. Vì vậy, khơng gây thiệt hại lớn về số lượng đàn gia Đánh giá Thuận lợiĐược sự quan tâm tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ đúng đắn củacác ngành, các cấp có liên quan như UBND huyện Hiệp Hịa, Trạm thú y huyệnHiệp Hòa tạo điều kiện cho sự phát triển của trại. 7Được Công ty cổ phần dinh dưỡng Hải Thịnh cung cấp về con giống, thứcăn, thuốc thú y có chất lượng trại được trang thiết bị hiện đại, điện lưới và hệ thống nước sạchluôn cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt và chăn lí trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luônquan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công ngũ kỹ thuật với chuyên môn vững vàng, đội ngũ công nhân nhiệt tình,năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong cơng Khó khănĐội ngũ cơng nhân trong trại cịn thiếu, do đó ảnh hưởng đến tiến độ thiết bị, vật tư còn thiếu thốn chưa đáp ứng được nhu cầu sản những năm gần đây, thời tiết diễn biến phức tạp kèm theo dịch bệnh xảyra khó kiểm sốt gây khó khăn cho chăn ni. Do đó địi hỏi cơng tác phịng chống dịchbệnh và nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn tại trại cần phải được đẩy Cơ sở khoa học của đề Một số hiểu biết về lợn Các thời kỳ quan trọng của lợn con+ Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên củalợn con do sự thay đổi hoàn toàn về mơi trường sống, bởi vì lợn con chuyển từđiều kiện sống ổn định trong cơ thể lợn mẹ, chuyển sang điều kiện tiếp xúc trựctiếp với mơi trường bên ngồi. Do vậy, nếu ni dưỡng chăm sóc khơng tốt lợncon dễ bị mắc bệnh, cịi cọc, tỷ lệ ni sống khác lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn. Lợn mẹvừa đẻ xong, cơ thể cịn mệt mỏi, đi đứng cịn nặng nề vì sức khỏe chưa hồiphục, nên dễ đè chết lợn con. Cần ni dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con ở giaiđoạn này.+ Thời kỳ 3 tuần tuổi là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quyluật tiết sữa của lợn mẹ gây nên. Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau đẻ và 8đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảmnhanh, trong khi đó, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn consinh trưởng và phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu. Để giảiquyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi.+ Thời kỳ ngay sau khi cai sữa là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do mơitrường sống thay đổi hồn tồn, do yếu tố cai sữa gây nên. Mặt khác, thức ănthay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do conngười cung cấp. Nên giai đoạn này, nếu ni dưỡng, chăm sóc khơng chu đáo,lợn con rất dễ bị cịi cọc, mắc bệnh đường hơ hấp, tiêu chăn ni lợn nái ngoại, cai sữa bắt đầu lúc 21 ngày, kết thúc lúc23 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta đã làmgiảm được 1 thời kỳ khủng hoảng của lợn Đặc điểm sinh lý của lợn conSinh lý của lợn con theo mẹ là khả năng thích ứng của cơ thể từ mơitrường trong bụng mẹ có nhiệt độ từ 38 - 400C ra mơi trường bên ngồi cónhiệt độ thấp hơn, làm ảnh hưởng đến sự thành thục và hoàn thiện về chứcnăng của các cơ quan bên trong cơ thể lợn sơ sinh.+ Đặc điểm tiêu hóa của lợn conSau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhấtlà cơ quan tiêu hoá chưa thành thục. Hàm lượng HCl và các men tiêu hốchưa hồn thiện. Thời gian đầu, dịch tiêu hoá ở lợn con thiếu cả về chất vàlượng. Lợn con trước một tháng tuổi hoàn toàn khơng có HCl tự do vì lúcnày lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh chúng liên kết với niêm dịch.+ Cơ năng điều tiết thân nhiệtCơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con còn kém do- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh. Trung khu điềutiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhấtở cả hai giai đoạn trong và ngoài thai. 9- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn lợntrưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh Đào Trọng Đạt và cs, 1996 [7].- Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảmbảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởngchậm lại và tăng trọng theo tuổi giảm xuống, điều trị làm cho khả năngchống đỡ bệnh tật của lợn con kém Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003 [10].+ Hệ miễn dịch của lợn conỞ cơ thể lợn con, hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện, chúng chưa cókhả năng tạo kháng thể chủ động mà chỉ có được kháng thể từ mẹ truyềnsang qua nhau thai hay sữa đầu. Bộ máy tiêu hóa và các dịch tiêu hóa ở giasúc non hoạt động rất yếu. Lượng enzym tiêu hóa và HCl tiết ra chưa đủ nêndễ gây rối loạn tiêu hóa, vì vậy mầm bệnh Salmonella, E .coli, dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu Trần Thị Dân 2008 [5] Lợn con mới đẻ trong máu khơng cóglobulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹsang qua sữa đầu. Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5- 6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100ml máu. Các yếu tốmiễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp cịn ít, khả năngmiễn dịch đặc hiệu của lợn con kém. Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cầnthiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là bệnhLCPT.+ Hệ vi sinh vật đường ruộtTheo Nguyễn Như Thanh và cs 2001 [17], hệ vi sinh vật đường ruộtgồm hai nhóm- Nhóm vi khuẩn đường ruột - vi khuẩn bắt buộc gồm E. coli,Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, ngườita quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E. coli. Đây là vi khuẩn phổ biếnnhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các 10chủng E. coli trở lên cường độc gây bệnh. Cấu trúc kháng nguyên của rất phức tạp. Người ta đã phát hiện có ít nhất 170 kháng ngun O, 80kháng nguyên K, 86 kháng nguyên H và kháng nguyên Nhóm vi khuẩn vãng lai chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nướcuống vào hệ tiêu hoá gồm Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillussubtilis… Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn con có các trực khuẩn yếmkhí gây thối rữa Clostridium perfringens, Bacillus sporogenes, Bacillusfasobacterium, Bacillus puticfus… Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng trong từng giai đoạn của lợn sóc là khâu quan trọng nhất trong việc nuôi dưỡng lợn con ở thời kỳbú sữa vì đây là thời kỳ lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ rất dễ gây ra tỷ lệ hao hụt lớn ở lợn con.+ Chuồng nuôi Chuồng nuôi phải được vệ sinh trước khi lợn mẹ đẻ. Nềnchuồng phải luôn sạch sẽ và khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè, đảm bảonhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm cần phải có đèn sưởi đểđảm bảo chống lạnh cho lợn con. Ngồi ra chuồng ni phải có máng tập ăn vàmáng uống cho lợn con cứng hoặc sàn thưa , khu vực cho lợn con mới sinh cần giữ ấm ở 32 35oC trong mấy ngày đầu, sau đó giữ 21 - 27oC cho đến lúc cai sữa 3 - 6 tuần độ, độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với Hội chăn nuôi Việt Nam 2002 [9], nhiệt độ môi trường ảnh hưởngđến tỷ lệ sống và tăng trưởng của lợn. Nhu cầu nhiệt độ của lợn tùy vào từnggiai đoạn sinh trưởng, lợn sữa giai đoạn 1 - 7 ngày tuổi cần nhiệt độ 30 – 31oC,lợn trên 20 ngày tuổi cần nhiệt độ 20 - 24oC. Trong mùa đơng ở các tỉnh phíaBắc nhiều ngày giá lạnh, nhiệt độ có thể hạ xuống dưới 10oC ảnh hưởng khôngtốt đến tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng của lợn con. 11Theo Hồ Văn Nam và cs 1997 [13], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài sẽlàm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị vikhuẩn cường độc gây bệnh.+ Cắt đuôi, mài răng nanh, thiếnThường thì trong chăn ni cơng nghiệp cần phải tiến hành cắt đi cholợn ni thịt. Vì lợn nuôi thịt thường được nuôi thành các đàn lớn và có mật độcao cho nên lợn thường tấn cơng nhau gây mất ổn định, giảm năng suất chănnuôi. Vị trí tấn cơng thường là cắt đi thường tiến hành ngay sau đẻhoặc trong tuần đầu sau ra lợn con mới đẻ đã có răng nanh, nên việc mài răng nanh cũngtiến hành ngay sau đẻ để tránh tình trạng gây đau cho lợn mẹ khi bú, giảm tỷ lệgây viêm vú cho lợn mẹ, tỷ lệ lợn con chết do lợn mẹ đè lợn mẹ đau đứng ngồikhông yên. Khi mài răng nanh tránh không phạm vào nướu hoặc lưỡi lợn con,ngoài ra người mài cũng nên chú ý không mài ngắn quá tránh vào tủy răng dẫnđến viêm thời kỳ này cũng phải thực hiện thiến cho những lợn đực khơngdùng làm giống. Có thể thiến trong khoảng từ 5 - 10 ngày tuổi. Cần sát trùngbằng cồn iod trước và sau thiến.+ Tiêm phòng- Khi lợn con được 7 ngày tuổi tiêm vắc xin Suyễn- Giai đoạn lợn con được 14 ngày tuổi tiêm vắc xin Circo- Giai đoạn lợn con được 30 ngày tiêm vắc xin Tai xanh- Giai đoạn lợn được 45 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin dịch Giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng vàđóng dấu.+ Quản lý lợn con Đối với những lợn con có dự định chọn làm giống thìcần phải có kế hoạch quản lý tốt. Những con này sẽ được cân và đánh số ở các 12giai đoạn sơ sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi. Đây chính là cơ sởgiúp cho việc lựa chọn để làm giống sau này.* Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổiBình thường khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trước và lợn con đẻ liền kề 15- 20 phút, cũng có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn. Lợn con đẻ ra phải được laukhơ bằng vải màn xơ mềm sạch theo trình tự miệng - mũi - đầu - mình - bốn chân,sau đó buộc dây rốn, cắt dây rốn rồi cho vào chuồng úm với nhiệt độ môi trườngnhỏ hơn 35oC. Lợn nái đẻ xong con cuối cùng tiến hành mài nanh, bấm tai, cắtđuôi.* Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổiTrong thời gian này nói chung ổ lợn con đã bú thành thạo và rõ ràng đãbước vào giai đoạn khởi động tốt trong thời gian này việc chăm sóc quản lý rấtquan trọng bao gồm cả phịng chống thiếu máu khống chế tiêu chảy, thiến giai đoạn này sữa lợn mẹ đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con trong mọi vấnđề, trừ sắt. Sắt cần thiết cho việc hình thành hemoglobin trong máu nó vậnchuyển oxygen đến các bộ phận cơ thể. Thiếu sắt sẽ gây thiếu máu nhưng có thểphịng ngừa bằng cách tiêm Đào Trọng Đạt và cs 1996 [7], một trong các yếu tố làm cho lợncon dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt. Nhiều thực nghiệm đã chứngminh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 - 50mg sắt nhưng lợn con chỉ nhận đượclượng sắt qua sữa mẹ là 1mg. Vì vậy phải bổ sung sắt bằng cách tiêm 1 2ml/con, vào khoảng thời gian từ 3 - 4 ngày tuổi. Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinhbần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc hội chứng tiêu sắt trong sữa mẹ không đủ cho nhu cầu sắt của nhu cầu lợn con,triệu chứng điển hình của thiếu sắt ở lợn con là thiếu máu, hàm lượnghemoglobin giảm, da lợn con màu trắng xanh, đôi khi tiêu chảy, phân trắng,chậm lớn, có khi chết. 13* Từ 3 tuần tuổi đến cai sữaThời gian này lợn con đã lớn nhanh hơn, nó trở thành dẻo dai và có khảnăng đương đầu tốt hơn với mơi trường ngoại cảnh của nó. Vào thời gian này,chúng bắt đầu ăn thức ăn và lớn nhanh, sự tăng khối lượng này là tăng khốilượng có hiệu quả, do đó ta cần cố gắng giảm thấp yếu tố stress cho lợn cách để đạt năng suất tối đa là lợn con bắt đầu ăn càng sớm càng tốt. Nóichung sự tiết sữa của lợn mẹ đạt đến đỉnh cao lúc 3 - 4 tuần tuổi và bắt đầu giảm, lợncon bắt đầu sinh trưởng nhanh ở tuổi này và cần nhận được thức ăn bổ sung nếu nósinh trưởng với tiềm năng di truyền của nó, trong giai đoạn này nội ký sinh trùng làvấn đề ở phần lớn các trại lợn và sự phá hoại do ký sinh trùng gây ra có thể bắt đầutừ rất bé. Yếu tố chăm sóc, quản lý chủ yếu cuối cùng của việc nuôi lợn con theo mẹlà cai sữa, tuổi cai sữa lợn con có thể thay đổi tùy theo đàn, tùy theo chuồng trại cósẵn. Nói chung lợn con có thể cai sữa bất cứ khi nào những lợn con càng bé càng đòihỏi sự quản lý nhiều hơn. Để thực hiện cai sữa được đảm bảo và đạt hiệu quả cao tacần chú ý những điểm sau để giảm stress khi cai sữa lợn con+ Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 5,5 kg.+ Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổđơng con.+ Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể.+ Hạn chế số lượng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu được.+ Hạn chế mức ăn vào trong vịng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy saucai sữa.+ Cứ 10 - 15 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp đặt 2vịi nước uống.+ Cho thuốc vào nước uống nếu tiêu Một số bệnh thường gặp ở lợn con.* Bệnh phân trắng lợn con 14Bệnh lợn con ỉa phân trắng là hội chứng hoặc là một trạng thái lâm sàng rất đadạng, đặc điểm là viêm dạ dày - ruột, đi tả, gầy sút rất nhanh. Tác nhân gây bệnh chủyếu là E. coli, nhiều loại Salmonella S. choleraesuis, S. typhisuis... và đóng vai tròphụ là Proteus, trực trùng sinh mủ, song liên cầu khuẩn. Bệnh xuất hiện những ngàyđầu sau khi sinh do E. coli hoặc khi cai sữa Salmonella.Bệnh lợn con ỉa phân trắng có tên khoa học là "Neonatal di arhoea" theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ 2004 [12], bệnh này là bệnhđặc trưng đối với lợn con ở giai đoạn từ 1- 3 tuần tuổi, bệnh phát triển mạnhmẽ và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất khi lợn con ở độ tuổi 10-20 ngày này xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới. Đối với Việt Nam từnhững năm trước cho tới hiện nay bệnh lợn con ỉa phân trắng vẫn phổ biếnvà xảy ra đất nước có kiểu khí hậu nhiệt đới cận nhiệt đới gió mùa nóng ẩm,mưa nhiều, nhiệt độ chênh lệch giữa các thời gian trong năm cao..Đây là điều kiện lý tưởng cho các nguyên nhân gây bệnh phát triển làm bùngphát bệnh dịch và sự kiểm soát bệnh này theo đó cũng khó khăn hơn. Đặc điểmdễ nhận thấy khi lợn con mắc bệnh này là lợn đi ỉa phân có màu đặc trưng trắngđục, xám, vàng lẫn bọt khí... lượng phân nhiều rơi vãi khắp chuồng, phân dính ởhậu mơn chân sau lợn bệnh. Lợn bệnh biểu hiện giảm bú, gầy sút, lông xù thểnặng dẫn đến tử vong, nếu qua khỏi thì cũng để lại hậu quả thiệt hại về kinh tế,sức khoẻ ảnh hưởng đến năng xuất chất lượng đàn lợn sau Theo Glawisching E, 1992 [22], nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợncon chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sócquản lý khơng Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần. 15- Bệnh tiêu chảy trên heo con có hể xảy ra ở bất kì độ tuổi theo mẹnào nhưng hường ở 2 thời kỳ cao điểm là 0-5 ngày tuổi và 7-14 ngày tuổi.* Hội chứng hơ hấpTìm hiểu nguyên nhân lợn triệu chứng và kinh nghiệm chăm sóc ta phânlập hội chứng hô hấp của lợn do đâu và nguyên nhân gì, kiểm tra lại hệ thốngthức ăn, cách vận hành quạt, giàn mát, nhiệt độ, vệ sinh, độ đồng đều.... Nhằmđưa ra biện pháp điều trị đúng bệnh, đúng thuốc, khắc phục kịp thời, tránh tìnhtrạng bệnh của lợn kéo dài làm nặng thêm đi đến nhờn thuốc khó điều trị. Khốngchế, cách ly khoanh vùng từ cơng nhân giữa các chuồng, dụng cụ chăm sóc giữacác chuồng tránh lây lan bệnh trong trại và giữa các trại. Tìm mọi biện phápnâng cao sức đề kháng của lợn kích ăn cho nhân là do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra trênlợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hơ cũng có thể do điều kiện chăn ni vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thayđổi…, do sức đề kháng của lợn giảm. Bệnh thường lây lan do nhốt chung vớicon nhiễm bệnh.* Viêm khớpNguyên nhân Streptococcus suis là vi khuẩn gram +, Streptococcus suisgây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi. Bệnh này thường gây ra trênlợn con 1 - 6 tuần tuổi. Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống rốn, vếtthương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trênnền chuồng, qua vết chứng Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưnglên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân. Lợn ăn ít, hơisốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng,sờ nắn vào có phản xạ đau Nguyễn Ánh Tuyết, 2015 [20]. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn conCác yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của lợn gồm hai nhómcác yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài.* Yếu tố bên trongYếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnhhưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn. Quá trình sinh trưởng của lợn tuân theocác quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trìnhtrao đổi chất trong cơ thể. Quá trình trao đổi chấto mẹ* Vệ sinh phòng bệnh- Vệ sinh chuồng trại+ Ngăn cách khu vực chăn nuôi lợn với các súc vật khác như Chó, mèo…+ Rửa và phun thuốc sát trùng chuồng trại sạch sẽ ít nhất 3 - 7 ngày trước khithả lợn vào chuồng.+ Hàng ngày phải quét phân trong chuồng, giữ cho chuồng luôn khô ráo, sạchsẽ.+ Xử lý xác chết gia súc nghiêm ngặt Chôn sâu, rắc vơi, đốt...+ Nên có kế hoạch rửa chuồng, phun thuốc sát trùng và diệt ruồi, muỗi mỗituần 2 Vệ sinh thức ăn và nước uống 18+ Thường xuyên kiểm tra thức ăn trước khi cho lợn ăn, thức ăn phải đảm bảochất lượng, không bị mốc...+ Nếu sử dụng thức ăn trộn thì định kỳ phải trộn kháng sinh để phòng bệnhcho lợn.+ Nước uống phải đủ, sạch, không bị nhiễm bẩn.* Tiêm vắc xin phịng bệnhBên cạnh cơng tác vệ sinh phịng bệnh, cần phịng những bệnh thơng thườngnhư dịch tả, cầu trùng, khơ thai, giả dại … lịch tiêm phòng cụ thể như sauBảng Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh của lợn conLoại lợnTuần tuổi3 - 4 ngàyLợn con7 - 14 ngàyPhòngLợn concai sữaLiềulượngbệnh/chế phẩmđưa thuốcThiếu sắtProlongalTiêm1-2Cầu trùngBaycox 5%Uống1SuyễnMycoGuardTiêm bắp1Tiêm bắp2theo mẹ14 - 17 ngàyVắc xin/Thuốc ĐườngHội chứngcòi cọcml/conPorcineCircovirusVaccine4tuầnTai xanhTiêm bắp25tuầnDịch tảTiêm bắp2Tiêm bắp2Tiêm bắp2Tiêm bắp27 tuần9 tuần11 tuầnLong mónglở mồmDịch tảLong mónglở mồm
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênNội dung text Khóa luận Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái BìnhĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHAN THỊ KIM CHI Tên chuyên đề ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG BỆNH CHO LỢN CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 3 TUẦN TUỔI TẠI TRẠI LỢN NHÂM XUÂN TIẾN, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo Chính quy Chuyên ngành Thú y Khoa Chăn nuôi Thú y Khóa học 2015 - 2019 Thái Nguyên - 2019ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHAN THỊ KIM CHI Tên chuyên đề ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG BỆNH CHO LỢN CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 3 TUẦN TUỔI TẠI TRẠI LỢN NHÂM XUÂN TIẾN, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo Chính quy Chuyên ngành Thú y Khoa Chăn nuôi Thú y Khóa học 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn Nguyễn Hưng Quang Thái Nguyên - 2019i LỜI CẢM ƠN Để góp phần tổng hợp lại kiến thức đã học và bước đầu làm quen với thực tiễn, được sự nhất trí của Nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình”. Trong quá trình học tập tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và thực hiện đề tài này em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ phía Nhà trường, thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y. Em xin được bày tỏ lòng biết ơn các thầy giáo trong Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa và toàn thể các thầy cô giáo đã dạy bảo, giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường. Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy Nguyễn Hưng Quang, em đã hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy đã giúp đỡ em và truyền đạt cho em những kinh nghiệm quý báu trong quá trình nghiên cứu khoa học. Em xin được gửi lời cảm ơn tới Cán bộ, công nhân tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến đã giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ em hoàn thành đề tài tốt nghiệp. Do trình độ bản thân có hạn nên bản khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong các thầy cô giáo và các bạn đóng góp ý kiến để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Thái Nguyên, tháng 12 năm 2019 Sinh viên Phan Thị Kim Chiii DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng Tình hình chăn nuôi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến qua 2 năm 35 Bảng Số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại lợn thực tập 36 Bảng Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại lợn 36 Bảng Lịch sát trùng tại trại lợn 39 Bảng Lịch tiêm phòng vắc xin của trại 40 Bảng Kết quả thực hiện những công việc khác trong thời gian thực tập tại cơ sở 41 Bảng Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại . 42 Bảng Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con từ 1 đến 3 tuần tuổi nuôi tại trại lợn thực tập 43 Bảng Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nuôi tại trang trại 44 Bảng Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trại lợn thực tập 45iii CỤM DANH TỪ VIẾT TẮT Cs Cộng sự ĐC Đối chứng ĐVT Đơn vị tính TN Thí nghiệm STT Số thứ tựiv MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN i DANH MỤC CÁC BẢNG ii CỤM DANH TỪ VIẾT TẮT iii MỤC LỤC iv PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1 Đặt vấn đề 1 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2 Mục tiêu của chuyên đề 2 Yêu cầu của chuyên đề 2 PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3 Điều kiện tự nhiên 3 Cơ sở vật chất của trang trại 4 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4 Tình hình sản xuất tại cơ sở thực tập 5 Tổng quan những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước 5 Một số hiểu biết về lợn con 5 Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 6 Cai sữa cho lợn con 17 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con 19 Một số đặc điểm tiêu hóa của lợn con 21 Nhu cầu về một số chất dinh dưỡng và chất khoáng 22 Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đẻ 22 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 25 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 28 Bệnh phân trắng lợn con 28 Bệnh viêm khớp 29 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ 30v PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32 Đối tượng 32 Địa điểm và thời gian tiến hành 32 Nội dung thực hiện 32 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 32 Các chỉ tiêu theo dõi 32 Phương pháp thực hiện 32 Phương pháp xử lý số liệu 34 PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35 Tình hình chăn nuôi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến qua 2 năm 35 Thực hiện biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại 35 Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại 37 Biện pháp vệ sinh phòng bệnh 37 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin của trại 40 Công tác khác 40 Kết quả thực hiện chuyên đề 42 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh sát trùng chuồng trại . 42 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi 43 Thực hiện các biện pháp phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trại lợn thực tập 44 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trang trại 44 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trang trại 45 PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46 Kết luận 46 Đề nghị 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 PHỤ LỤC1 PHẦN 1 MỞ ĐẦU Đặt vấn đề Trong những năm gần đây cùng với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, ngành chăn nuôi thú y ở nước ta cũng đang từng bước phát triển nhằm đem lại nhiều sản phẩm có chất lượng cho xã hội và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Ngành chăn nuôi nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng là một nghề có truyền thống lâu đời và phổ biến của nhân dân ta. Ngành chăn nuôi lợn đã và đang phát triển cả về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng như cơ sở vật chất phục vụ chăn nuôi, tất cả vì mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước cũng như trong xuất khẩu. Tuy nhiên với số lượng đàn nuôi ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục từ các yếu tố khác như thời tiết, khí hậu, nguồn nước, không khí nên vấn đề dịch bệnh có những biến đổi khó lường, đặc biệt quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ở giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sinh trưởng của lợn sau này. Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, cùng với việc sử dụng vắc xin phòng bệnh để đạt hiệu quả kinh tế cao. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa, giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên đề “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình’’. Năm 2018 trại em gồm có 39 con lợn đực giống, 240 con lợn hậu bị và 2215 con lợn nái sinh sản nhưng sang đến năm 2019 do ngành chăn nuôi lợn ở việt nam đang gặp vấn đề nghiêm trọng về bệnh dịch tả lợn châu phi, trại em không nhập lợn mới vào lên số lượng lợn ở trại cũng được giảm xuống còn 33 con lợn đực giống, 220 lợn hậu bị, 2180 con lợn nái sinh Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề Mục tiêu của chuyên đề - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. - Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại. - Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trại. Yêu cầu của chuyên đề - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại lợn thực tập - Áp dụng được các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại đạt hiệu quả cao. - Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết các phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại. - Học tập và tích lũy những kiến thức mới từ thực tiễn chăn nuôi tại cơ PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Điều kiện cơ sở nơi thực tập Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lí Trại lợn Nhâm Xuân Tiến thuộc huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Huyện Đông Hưng nằm ở trung tâm thành phố của tỉnh Thái Bình. Tên trại thống nhất Cực đông của huyện nằm tại xã Đông Kinh, cực bắc nằm tại xã Đô Lương, cực tây nằm tại xã Bạch Đằng, cực nam nằm tại xã Đông Á. Địa giới hành chính huyện Đông Hưng Phía đông giáp huyện Thái Thụy Phía bắc giáp huyện Quỳnh Phụ Phía tây và tây bắc giáp huyện Hưng Hà Phía nam giáp thành phố Thái Bình Phía đông nam giáp huyện Kiến Xương - Địa hình Trên địa bàn huyện có một mạng lưới chằng chịt các con sông nhỏ lấy nước từ hai con sông là sông Luộc và sông Trà Lý để cấp nước cho sông Diêm Hộ. Trong đó có sông Sa Lung và con sông lớn nhất là sông Tiên Hưng, là nhánh lớn của sông Diêm Hộ, lấy nước từ sông Luộc, chảy qua thị trấn Đông Hưng. Cực đông của huyện nằm tại xã Đông Kinh, cực bắc nằm tại xã Đô Lương, cực tây nằm tại xã Bạch Đằng, cực nam nằm tại xã Đông Á. Huyện có diện tích tự nhiên là 191,76 km², toàn bộ là đồng bằng. - Khí hậu Khí hậu Thái Bình mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đông khô lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, tháng 10 và tháng 4 là mùa thu và mùa4 xuân tuy không rõ rệt như các nước nằm phía trên vành đai nhiệt đới. Thái Bình có nhiệt độ trung bình 23º - 24ºC, tổng nhiệt độ hoạt động trong năm đạt 8400 - 8500ºC, số giờ nắng từ 1600 - 1800 h/năm, tổng lượng mưa trong năm 1700 - 2200 mm/năm, độ ẩm không khí dao động từ 80 - 90%. Cơ sở vật chất của trang trại - Trại lợn được xây dựng trên một khu đất rộng bao gồm nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phụ phục vụ cho công nhân, sinh viên thực tập và các hoạt động khác của trại. - Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí hệ thống chuồng trại cho 2420 nái bao gồm 6 chuồng đẻ, 4 chuồng bầu, 1 chuồng cách ly, 3 chuồng cai sữa, 1 chuồng đực, cùng một số công trình phục vụ cho chăn nuôi như nhà sát trùng, nhà ăn, nhà nghỉ trưa, kho thuốc, kho thức ăn, phòng pha tinh, Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có hố sát trùng. Phòng tinh được trang bị các dụng cụ hiện đại như máy lọc nước, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy, dụng cụ và một số thiết bị khác - Thiết kế chuồng nuôi Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống dàn mát, cuối chuồng đẻ và chuồng bầu đều có 3 cái quạt thông gió và 2 quạt đối với chuồng cách ly và chuồng cai sữa. Hai bên chuồng có 2 dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm. Trên được thiết kế chống nóng. Mỗi chuồng đẻ có 108 ô kích thước 2,4 m x 1,6 m/ô, mỗi chuồng bầu gồm 8 dãy mỗi dãy 72 ô, ô có kích thước 2,4 m x 0,65 m/ô - Nơi xử lý chất thải ở cuối khu chăn nuôi là hố biogas, cách hố biogas 100m là nhà chứa các chất thải cứng Cơ cấu tổ chức của trang trại - Cơ cấu của trại được tổ chức như sau + 01 Chủ trang trại5 + 04 kỹ sư + 02 Tổ trưởng chuồng đẻ + 02 Tổ trưởng chuồng bầu + 01 Kế toán + 37 công nhân và 5 sinh viên thực tập Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, chuồng bầu, nhà bếp. Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại. Tình hình sản xuất tại cơ sở thực tập Trại lợn nuôi các giống lợn khác nhau như Yorkshire, 243 Duroc. Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống. Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,5 lứa/năm. Số con sơ sinh là 13,2 con/đàn, số con cai sữa là 11,23 con/đàn. Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của công ty thức ăn chăn nuôi CP. Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 28 ngày thì tiến hành cai sữa và xuất bán Trong trại có 33 con lợn đực giống, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo. Tinh lợn được khai thác chủ yếu là giống Duroc. Lợn nái được phối 2 lần và được luân chuyển giống. Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty thức ăn chăn nuôi CP cung cấp cho từng đối tượng lợn của trại. Tổng quan những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước Một số hiểu biết về lợn con * Các thời kỳ quan trọng của lợn con + Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con6 chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể lợn mẹ, chuyển sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài. Do vậy, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp. Mặt khác lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn. Lợn mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con. Cần nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con ở giai đoạn này. + Thời kỳ 3 tuần tuổi là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên. Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi đó, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu. Để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi. + Thời kỳ ngay sau khi cai sữa là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên. Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp. Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng, chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ bị còi cọc, mắc bệnh đường hô hấp, tiêu hóa. Trong chăn nuôi lợn nái ngoại, cai sữa bắt đầu lúc 21 ngày, kết thúc lúc 28 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta đã làm giảm được 1 thời kỳ khủng hoảng của lợn con Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con theo mẹ Chăm sóc là khâu quan trọng nhất trong việc nuôi dưỡng lợn con ở thời kỳ bú sữa vì đây là thời kỳ lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh. Nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ rất dễ gây ra tỉ lệ hao hụt lớn ở lợn con. - Chuồng nuôi Chuồng nuôi phải được vệ sinh trước khi lợn mẹ đẻ. Nền chuồng phải luôn sạch sẽ và khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè, đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm cần phải có7 đèn sưởi để đảm bảo chống lạnh cho lợn con. Ngoài ra chuồng nuôi phải có máng tập ăn và máng uống cho lợn con riêng. Nền cứng hoặc sàn thưa không có độn khu vực cho lợn con mới sinh cần giữ ấm ở 32 - 35oC trong mấy ngày đầu, sau đó giữ 21 - 27oC cho đến lúc cai sữa 3 - 6 tuần tuổi. Nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với gia súc. Theo Hội chăn nuôi Việt Nam 2002 [15], nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của lợn. Nhu cầu nhiệt độ của lợn tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng, lợn sữa giai đoạn 1 - 7 ngày tuổi cần nhiệt độ 30 - 31oC, lợn trên 20 ngày tuổi cần nhiệt độ 20 - 24oC. Trong mùa Đông ở các tỉnh phía Bắc nhiều ngày giá lạnh, nhiệt độ có thể hạ xuống dưới 10oC ảnh hưởng không tốt đến tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng của lợn con. Theo Hồ Văn Nam và cs 1997 [19], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị vi khuẩn cường độc gây bệnh. - Cắt đuôi, bấm răng nanh, thiến Thường thì trong chăn nuôi công nghiệp cần phải tiến hành cắt đuôi cho lợn nuôi thịt. Vì lợn nuôi thịt thường được nuôi thành các đàn lớn và có mật độ cao cho nên lợn thường tấn công nhau gây mất ổn định, giảm năng suất chăn nuôi. Vị trí tấn công thường là đuôi. Việc cắt đuôi thường tiến hành ngay sau đẻ hoặc trong tuần đầu sau đẻ. Dùng kìm điện cắt sát khấu đuôi sao cho để lại 2,5 - 3 cm. Cắt xong dùng cồn iot 70o để sát trùng. Ngoài ra lợn con mới đẻ đã có răng nanh, nên việc bấm răng nanh cũng tiến hành ngay sau đẻ để tránh tình trạng gây đau cho lợn mẹ khi bú, giảm tỷ lệ gây viêm vú cho lợn mẹ. Khi cắt răng nanh, người cắt tránh không phạm vào nướu hoặc lưỡi lợn con, ngoài ra người cắt cũng nên cẩn thận không để nanh gẫy bắn vào mắt Trong thời kỳ này cũng phải thực hiện thiến cho những lợn đực không dùng làm giống. Có thể thiến trong khoảng từ 8 - 10 ngày tuổi. Cần sát trùng bằng cồn iod trước và sau thiến. Theo Hồ Văn Nam và cs 1997 [19], bệnh phó thương hàn là bệnh truyền nhiễm chủ yếu xảy ra ở lợn con 2 - 4 tháng tuổi. Đặc trưng của bệnh là do vi khuẩn tác động vào bộ máy tiêu hóa gây nên triệu chứng nôn mửa, ỉa chảy, phân khắm, vết loét lan tràn ở ruột già. - Ngoài ra để chăm sóc tốt cho đàn lợn con thì chúng ta cần phải phòng và trị bệnh cho chúng để chúng có sức đề kháng cao ngay từ nhỏ. + Phòng bệnh bằng vắc xin Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất. Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012 [13], vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen. Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễm dịch làm cho động vật có miễm dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ướng. Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày tuỳ theo từng loại vắc xin mới có miễn dịch. Khi lợn con được 20 ngày tuổi nên tiêm phòng những loại vắc xin Giai đoạn lợn được 20 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin cho bệnh phó thương hàn. Giai đoạn lợn được 45 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin bệnh dịch tả. Giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin bệnh tụ huyết trùng và đóng + Điều trị bệnh Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012 [13], nguyên tắc để điều trị bệnh là + Toàn diện Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dung thuốc. + Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan. + Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng. + Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền. + Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm. Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa. + Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa. Theo Nguyễn Bá Hiên và và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012 [13], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là + Hộ lý Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh. Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu. Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó. Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh. + Dùng kháng huyết thanh Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh. Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng huyết thanh kháng độc tố. + Dùng hóa dược Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm10 bệnh. Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ. Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau. Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn. + Dùng kháng sinh Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn. Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể. Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh. Vì vậy, khi dung thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây - Phải chẩn đoán đúng bệnh để dung đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn. - Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định. Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng. - Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh. - Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc. - Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dung thêm vitamin, tiêm nước sinh lý Quản lý lợn con Đối với những lợn con có dự định chọn làm giống thì cần phải có kế hoạch quản lý tốt. Những con này sẽ được cân và đánh số ở các giai đoạn sơ sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi. Đây chính là cơ sở giúp cho việc lựa chọn để làm giống sau * Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổi Bình thường khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trước và lợn con đẻ liền kề 15 - 20 phút, cũng có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn. Lợn con đẻ ra phải được lau khô bằng vải màn xô mềm sạch theo trình tự miệng - mũi - đầu - mình - rốn - bốn chân, cho vào ổ úm sau khi nhiệt độ môi trường nhỏ hơn 35oC. Lợn nái đẻ xong con cuối cùng tiến hành bấm nanh, cắt rốn, cố định đầu vú cho lợn con mục đích là tạo điều kiện để đàn lợn con phát triển đồng đều. * Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi Trong thời gian này nói chung ổ lợn con đã bú thành thạo và rõ ràng đã bước vào giai đoạn khởi động tốt trong thời gian này việc chăm sóc quản lý rất quan trọng bao gồm cả phòng chống thiếu máu khống chế tiêu chảy, thiến lợn và cắt đuôi. Trong giai đoạn này sữa lợn mẹ đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con trong mọi vấn đề, trừ sắt. Sắt cần thiết cho việc hình thành hemoglobin trong máu nó vận chuyển oxygen đến các bộ phận cơ thể. Thiếu sắt sẽ gây thiếu máu nhưng có thể phòng ngừa bằng cách tiêm sắt. Theo Đào Trọng Đạt và cs 1996 [11], một trong các yếu tố làm cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt. Nhiều thực nghiệm đã chứng minh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 - 50 mg sắt nhưng lợn con chỉ nhận được lượng sắt qua sữa mẹ là 1mg. Vì vậy phải bổ sung một lượng sắt tối thiểu 200 - 250 mg/con/ngày. Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc hội chứng tiêu chảy. Nhu cầu sắt cho lợn con mỗi ngày cần 7 - 16 mg hoặc 21 mg/kg tăng khối lượng duy trì hemoglobin hồng cầu trong máu, sắt dự trữ cho cơ thể tồn tại và phát triển. Lượng sắt trong sữa mẹ không đủ cho nhu cầu sắt của nhu cầu lợn con, triệu chứng điển hình của thiếu sắt ở lợn con là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm, da lợn con màu trắng xanh, đôi khi tiêu chảy, phân trắng, chậm lớn, có khi * Từ 3 tuần tuổi đến cai sữa Thời gian này lợn con đã lớn nhanh hơn, nó trở thành dẻo dai và có khả năng đương đầu tốt hơn với môi trường ngoại cảnh của nó. Vào thời gian này, phần lớn lợn con theo mẹ đã được 3 - 4 tuần tuổi, chúng bắt đầu ăn thức ăn và lớn nhanh, sự tăng khối lượng này là tăng khối lượng có hiệu quả, do đó ta cần cố gắng giảm thấp yếu tố stress cho lợn con. Một cách để đạt năng suất tối đa là lợn con bắt đầu ăn càng sớm càng tốt. Nói chung sự tiết sữa của lợn mẹ đạt đến đỉnh cao lúc 3 - 4 tuần tuổi và bắt đầu giảm, lợn con bắt đầu sinh trưởng nhanh ở tuổi này và cần nhận được thức ăn bổ sung nếu nó sinh trưởng với tiềm năng di truyền của nó, trong giai đoạn này nội ký sinh trùng là vấn đề ở phần lớn các trại lợn và sự phá hoại do ký sinh trùng gây ra có thể bắt đầu từ rất bé. Yếu tố chăm sóc, quản lý chủ yếu cuối cùng của việc nuôi lợn con theo mẹ là cai sữa, tuổi cai sữa lợn con có thể thay đổi tùy theo đàn, tùy theo chuồng trại có sẵn. Nói chung lợn con có thể cai sữa bất cứ khi nào những lợn con càng bé càng đòi hỏi sự quản lý nhiều hơn. Để thực hiện cai sữa được đảm bảo và đạt hiệu quả cao ta cần chú ý những điểm sau để giảm stress khi cai sữa lợn con Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 5,5 kg. Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổ đông con. Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể. Hạn chế số lượng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu được. Hạn chế mức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy sau cai sữa. Cứ 4 - 5 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp đặt 2 vòi nước uống. Cho thuốc vào nước uống nếu tiêu chảy. * Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Thời gian tiết sữa đầu của lợn nái là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với13 lợn con là trong 24 giờ đầu. Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả đàn con bú cùng lúc. Nếu lợn mẹ chưa đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước. Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận 2006 [23], lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể. Song lượng kháng thể trong máu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu. Theo Trần Văn Phùng và cs 2004 [20], lợn con mới đẻ lượng kháng thể tăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lợn mẹ. Theo Trần Thị Dân 2008 [8], lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu. Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 - 6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100ml máu. Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém. Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là hội chứng tiêu chảy. Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao. Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với bình thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần. Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng globulin mà sữa thường không có, globulin có tác dụng giúp cho lợn con có sức đề kháng đối với bệnh tật. Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cặn bã phân su trong quá trình tiêu hóa phát triển thai để hấp thu chất dinh dưỡng mới. Nếu không nhận được Mg++ thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, tỷ lệ chết cao. Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu, theo quy luật tiết sữa của lợn nái thì lượng sữa tiết ra ở các vú phần ngực nhiều hơn vú ở phần bụng, mà lợn con trong ổ thường con to, con nhỏ14 không đều nhau. Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú ở những vú trước con ngực có nhiều sữa hơn và dẫn tới tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con rất thấp, có trường hợp có những con lợn yếu không tranh được bú sẽ bị đói làm tỷ lệ chết của lợn con cao. Khi cố định đầu vú, nên ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú phía trước ngực. Công việc này đòi hỏi phải kiên trì, tỷ mỉ bắt từng con cho bú nhiều lần trong một ngày 7 - 8 lần, làm liên tục trong 3 - 4 ngày để chúng quen hẳn với vị trí mới thôi. Cũng có trường hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú thì những lợn vú phía sau có thể cho mỗi con làm quen 2 vú, để vừa tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa tránh bị teo vú cho lợn mẹ. Nếu cố định đầu vú tốt thì sau 3 - 4 ngày lợn con sẽ quen tự bú ở các vú quy định cho nó, lợn con quen nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào thế nằm của lợn mẹ, nếu lợn mẹ thường xuyên nằm quay về một phía khi cho con bú thì lợn con nhận biết vú quy định của nó sớm hơn. Ngược lại, nếu lợn mẹ nằm thay đổi vị trí luôn thì lợn con sẽ chậm nhận biết hơn. Theo Đoàn Thị Kim Dung 2004 [9], vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng dung dịch sát trùng. Bấm nanh cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn. Tăng cường ăn uống đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa. Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng bị viêm. Dùng các phương pháp chườm nóng, xoa bóp nhẹ nên vùng bị sưng. Nếu ghép lợn con với lợn mẹ khác mẹ thì phun erezyl cho cả đàn con cũ và mới mới không bị mẹ cắn, những con mới ghép cũng phải cố định vú bú. * Bổ sung sắt cho lợn con Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con 30 ngày đầu sau đẻ là 30 x 7 mg/ ngày = 210 mg. Trong đó, lượng sắt cung cấp từ sữa chỉ đạt 1 - 2 mg/ ngày 36 - 60 mg/30 ngày, lượng sắt thiếu hụt cho một lợn con khoảng 150 - 180 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt. Trong thực tế thường cung cấp thêm 200 mg. Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày sau khi sinh. Việc tiêm sắt thường làm với các thao tác khác để tiết kiệm công lao động. Nếu cai sữa lúc 3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg là đủ. Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200mg sắt tiêm 2 lần. Lần 1 3 ngày tuổi, lần 2 10 - 12 ngày tuổi. Triệu chứng điển hình của sự thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm. Khi thiếu sắt, da của lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn, có khi bị chết. Để loại trừ hiện tượng thiếu sắt cần bổ sung kịp thời cho lợn con bằng cách tiêm, cho uống hoặc cho ăn. Đưa sắt vào cơ thể lợn con bằng cách tiêm là đạt hiệu quả nhất. Nên dùng sắt dưới dạng dextran, hợp chất này có tên là Ferri - Dextran. Ferri - Dextran là hợp chất có phân tử lớn nên ngấm từ từ, hiệu quả kéo dài. Cách thức sử dụng - Cách 1 Chỉ tiêm 1 lần vào ngày thứ 1 sau khi đẻ, với liều lượng 200 mg sắt Fe - Dextran cho 1 lợn con. - Cách 2 Tiêm lần 2 lần thứ nhất 100mg vào ngày thứ 1 sau khi đẻ, lần thứ 2 tiêm lặp lại là 5 ngày sau khi tiêm lần thứ nhất. Cũng với liều lượng 100 mg cho 1 lợn con. Để ngăn ngừa hiện tượng ngộ độc sắt cho lợn con, cần bổ sung thêm vitamin E vào khẩu phần ăn của lợn mẹ 1 ngày trước khi tiêm khoảng 500mg. Nếu thiếu vitamin E thì cần cung cấp 20 - 30 mg Fe vào ngày thứ 3 sau khi sinh cũng đã gây ngộ độc cho cơ thể lợn - Cách tiêm sắt cho lợn con Dùng 1 bơm tiêm sạch lấy dung dịch sắt khỏi lọ chứa, sử dụng kim tiêm 14 hoặc 16 đường kính lớn để lấy thuốc. Sau khi lấy thuốc đầy bơm dùng kim 8, dài 1 cm để tiêm. Sắt tiêm quá liều có thể gây hại, thậm chí có thể gây độc. Kiểm tra liều dùng ghi ở trên nhãn sản phẩm, không cần thay hay sát trùng kim tiêm cho từng con lợn, song điểm tiêm nếu bẩn nên lau bằng nước sát trùng. Rửa và sát trùng dụng cụ sau khi tiêm cho nhóm lợn con. Việc sử dụng kim tiêm và tiêm 1 lần tạo điều kiện vệ sinh hơn. Nên tiêm vào cổ, không nên tiêm ở mông vì có thể làm hại đến dây thần kinh và cũng có thể vết sắt dư thừa lưu ở thân lợn thịt mổ bán. Tiêm sắt vào cơ bắp hay tiêm vào dưới da. Cẩn thận không tiêm vào phần xương sống. Giữ mũi tiêm một lúc để tránh hoặc giảm lượng thuốc chảy ngược ra. Điểm khuyến cáo để tiêm dưới da là chỗ da kéo lên được ở phía trước chân trước. * Tập cho lợn ăn sớm - Mục đích + Bù đắp phần dinh dưỡng thiếu hụt cho nhu cầu sinh trưởng phát triển của lợn con khi sản lượng sữa mẹ giảm sau 3 tuần tiết sữa. + Rèn luyện bộ máy tiêu hóa của lợn con sớm hoàn thiện về chức năng, đồng thời kích thích bộ máy tiêu hóa phát triển nhanh hơn về kích thước và khối lượng. + Giảm bớt sự nhấm nháp thức ăn rơi vãi của lợn con để hạn chế được các bệnh đường ruột của lợn con. + Giảm bớt sự khai thác sữa mẹ kiệt quệ và giảm tỷ lệ hao mòn của lợn mẹ, từ đó lợn mẹ sớm động dục trở lại sau khi cai sữa lợn con. + Tránh sự cắn xé bầu vú lợn mẹ, hạn chế bệnh viêm vú. + Có điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con, tăng hệ số quay vòng lứa đẻ/nái/ - Phương pháp tập ăn sớm Khi lợn con đạt 7 - 10 ngày tuổi, ta nên tiến hành cho lợn con làm quen với thức ăn. Thức ăn tập ăn phải đảm bảo có tính thèm ăn cao. Cần lựa chọn loại thức ăn, các chất phụ gia, cũng như phương pháp chế biến sao cho kích thích sự thu nhận thức ăn của lợn con. Lợn con thường rất thích ăn thức dạng viên hay bột nhỏ khô, những thức ăn này thường là các loại tấm, bắp, đậu nành được rang xay để tạo mùi thơm. Phải cho lợn con làm quen với nguồn glucid, lipid, protid của các loại thực liệu thông thường để hệ tiêu hóa của lợn con sớm bài tiết các enzyme tiêu hóa thích hợp. Cai sữa cho lợn con * Điều kiện cai sữa cho lợn con - Phải chủ động thức ăn, thức ăn cần phải có phẩm chất tốt, giá trị dinh dưỡng cao, cân đối. - Sức khỏe của lợn con và lợn mẹ phải tốt. - Lợn con phải ăn tốt và tiêu hóa tốt các loại thức ăn. - Cần phải có trang thiết bị đầy đủ, đúng kỹ thuật. - Người chăn nuôi phải có tay nghề, tinh thần trách nhiệm cao. * Các hình thức cai sữa - Cai sữa thông thường Cai sữa từ 42 - 60 ngày tuổi. + Ưu điểm Lợn con biết ăn tốt, thức ăn yêu cầu không cao lắm, lợn con khỏe mạnh hơn, khả năng điều tiết thân nhiệt tốt hơn nên chăm sóc nhẹ nhàng hơn. + Nhược điểm Khả năng sinh sản thấp, chi phí cho 1kg khối lượng lợn con cao, tỷ lệ hao mòn lợn mẹ lớn hơn. - Cai sữa sớm Cai sữa từ 21 đến 28 ngày tuổi. + Ưu điểm Nâng cao sức sinh sản của lợn nái nâng cao số lứa đẻ lên 2,33 lứa so với 2,19 lứa, tránh được một số bệnh truyền nhiễm từ mẹ sang con, giảm chi phí thức ăn/1kg tăng khối lượng lợn con 20% so với cai sữa thông thường, giảm tỷ lệ hao mòn lợn + Nhược điểm Đòi hỏi thức ăn phải có chất lượng tốt, người chăm sóc nuôi dưỡng phải nhiệt tình với công việc và có nhiều kinh nghiệm. * Kỹ thuật cai sữa Cần tiến hành từ từ + Ngày đầu Tách mẹ từ 7 giờ sáng, buổi trưa cho về với lợn con, 13 giờ tách lợn mẹ đến 17 giờ lại cho lợn mẹ về với lợn con. + Ngày thứ 2 Buổi sáng tách lợn mẹ đi, buổi chiều 17 giờ cho lợn mẹ về với lợn con. + Ngày thứ 3 Buổi sáng tách hẳn lợn mẹ với lợn con, không gây ảnh hưởng tới lợn con. - Trước cai sữa 2 - 3 ngày cần giảm số lần bú của lợn con. - Giảm thức ăn cho lợn mẹ trước khi cai sữa 1 - 2 ngày. - Chế độ ăn đối với lợn con + Tỷ lệ sơ trong khẩu phần thấp Khả năng tiêu hóa chất xơ ở lợn con còn kém, tỷ lệ xơ ở trong khẩu phần ăn cao thì lợn con sinh trưởng phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn cao, lợn con dễ táo bón, viêm ruột và có thể dẫn đến còi cọc, tỷ lệ thích hợp là 5 - 6%. Xu hướng trong những năm gần đây ở các nước chăn nuôi tiên tiến người ta khuyến khích nâng cao tỷ lệ xơ trong khẩu phần ăn của lợn để nâng cao sức khỏe. + Có tỷ lệ ăn thích hợp Lợn con ở giai đoạn này cần có dinh dưỡng tốt cho phát triển bộ xương và cơ bắp là chủ yếu. Nếu chúng ta cung cấp khẩu phần ăn có lượng thức ăn tinh bột cao, lợn con sẽ béo sớm và khả năng tăng trọng sẽ giảm, tích lũy nhiều mỡ sớm. Tỷ lệ thức ăn tinh thích hợp cho lợn con trong giai đoạn này là 80% trong khẩu phần. + Có tỷ lệ nước thích hợp Nếu khẩu phần lợn con có tỷ lệ nước cao sẽ dẫn đến tiêu hóa kém, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng nhất là protein, thức ăn nhiều nước cũng gây nền chuồng bẩn, ẩm thấp và lợn con dễ nhiễm Nếu tỷ lệ nước thấp sẽ gây nên thiếu nước cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển của lợn con. Tỷ lệ thức ăn tinh thô phải thích hợp, cứ 1kg thức ăn tinh trộn với 0,5l nước sạch, tối đa có thể là tỷ lệ 1 1, ngoài ra người chăn nuôi phải cho lợn con uống nước đầy đủ theo hình thức tự do. Ngoài ra chúng ta còn bổ sung khoáng vi lượng như Mn, Co, Cu, Mg, Fe, và bổ sung cho lợn những chế phẩm vitamin - khoáng. + Phương pháp cho lợn con ăn Cho ăn nhiều bữa trong ngày, 5 - 6 bữa/ngày thì có tốc độ tăng trọng cao hơn 3 bữa/ngày. Tuy nhiên, cho ăn nhiều bữa trong ngày sẽ tốn công lao động trong chăn nuôi. Từ đó người chăn nuôi cần lựa chọn số bữa thích hợp để cho lợn con ăn. Cho lợn con ăn đúng giờ giấc quy định và tập cho lợn con những phản xạ có điều kiện về tiêu hóa. Cho lợn con ăn từ từ để tránh vung vãi ra ngoài và hạn chế được lợn con mắc các bệnh về đường tiêu hóa. Cho lợn con ăn đúng tiêu chuẩn và khẩu phần ăn. Theo dõi sức khỏe để điều chỉnh khẩu phần và tiêu chuẩn cho chúng. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của lợn gồm hai nhóm các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài. * Yếu tố bên trong Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn. Quá trình sinh trưởng của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau. Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormon. Hormon tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong * Yếu tố bên ngoài Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ, môi trường, ánh sáng và các yếu tố khác. + Dinh dưỡng Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh. Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể. + Nhiệt độ và độ ẩm môi trường Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể. Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn. Theo Đoàn Thị Kim Dung 2004 [9], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu. Theo Phạm Khắc Hiếu và cs 1998 [14], lợn con sinh ra phải được sưởi ấm ở nhiệt độ 34oC trong suốt tuần lễ đầu tiên, sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 30oC, như vậy lợn sẽ tránh được những stress lạnh ẩm. Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, lợn sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng. Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%. * Ánh sáng ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn. Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn người ta thấy rằng21 ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị và lợn sinh sản hơn là lợn vỗ béo. Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt là quá trình trao đổi khoáng. Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9% so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời. * Các yếu tố khác ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh truởng và phát triển lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề về chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi nhu không khí, tốc độ gió lùa, nồng độ các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa. Một số đặc điểm tiêu hóa của lợn con + Đặc điểm tiêu hóa của lợn con Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhất là cơ quan tiêu hoá chưa thành thục. Hàm lượng HCl và các men tiêu hoá chưa hoàn thiện. Thời gian đầu, dịch tiêu hoá ở lợn con thiếu cả về chất và lượng. Lợn con trước một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do vì lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh chúng liên kết với niêm dịch. + Hệ vi sinh vật đường ruột Theo Nguyễn Như Thanh và cs 2004 [21], hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm - Nhóm vi khuẩn đường ruột - vi khuẩn bắt buộc gồm Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus Trong nhóm vi khuẩn này, người ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn Đây là vi khuẩn phổ biến nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng trở lên cường độc gây bệnh. Cấu trúc kháng nguyên của rất đa dạng. Cho đến nay đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 70 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H. Ngoài 3 loại kháng nguyên thông thường trên,22 còn có thêm kháng nguyên bám dính F, yếu tố gây bệnh không phải là độc tố của E. Coli Đặng Xuân Bình, 2010 [1]. Nhóm vi khuẩn vãng lai chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước uống vào hệ tiêu hoá gồm Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillus subtilis Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn con có các trực khuẩn yếm khí gây thối rữa Clostridium perfringens, Bacillus sporogenes, Bacillus fasobacterium, Bacillus puticfus Nhu cầu về một số chất dinh dưỡng và chất khoáng - Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại và tăng trọng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Bá Hiên, 2003 [17] Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đẻ * Công tác chuẩn bị trước khi lợn đẻ. Trước khi đẻ ngày đẻ dự kiến 7 - 10 ngày thì phải đưa lợn chửa lên chuồng đẻ để chờ đẻ. Căn cứ vào ngày đẻ dự kiến dưới chuồng bầu mà xếp theo các ô chuồng. Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, chuồng phải được dọn dẹp và rửa sạch sẽ. Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng. Phân công trực đẻ, theo dõi đỡ đẻ cho lợn và can thiệp kịp thời khi cần thiết, tránh những thiệt hại đáng tiếc xảy ra. Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn như sau - Đối với nái hậu bị, ăn thức ăn 3060 với tiêu chuẩn 2,2 - 2,5kg/ngày/con, cho ăn 3 lần trong ngày. - Đối với nái từ lứa 2 đến lứa 4, ăn thức ăn 3060 với tiêu chuẩn 2,5 - 3kg/ngày/con, cho ăn 3 lần trong ngày. - Đối với nái dạ từ lứa 5 trở đi, ăn thức ăn 3060 với tiêu chuẩn 3,5kg/ngày/con, cho ăn 3 lần trong - Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 4 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn xuống 0,5 kg/con/bữa. - Khi lợn nái đẻ được 2 ngày trở đi tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 – 0,6 kg/con/ngày, chia làm ba bữa sáng lúc 7 giờ, chiều lúc 15 giờ, tối lúc 23 giờ, mỗi bữa tăng lên 0,5kg. * Chuẩn bị ô úm cho lợn con Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con. Theo Trần Văn Phùng và cs. 2004 [17], ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục. Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông. Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con. * Chuẩn bị dụng cụ Cần chuẩn bị các dụng cụ đỡ đẻ kéo, cồn sát trùng, giẻ lau, đèn thắp sáng, khay đựng dụng cụ, các loại thuốc hỗ trợ trong lúc đẻ, khay đựng nhau. * Trực và đỡ đẻ lợn Trực đẻ rất cần thiết để có thể hỗ trợ lợn nái trong những trường hợp bất thường. Quan sát được những biểu hiện của lợn nái khi có hiện tượng sắp đẻ, để có kế hoạch trực và đỡ đẻ cho lợn nái. Lợn nái sắp đẻ có những biểu hiện Ỉa đái vặt, bầu vú căng mọng, bóp đầu vú sữa chảy ra, khi thấy có nước ối và phân xu, lợn nái rặn từng cơn là lợn con sắp ra. Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, thường gọi là cơn đau. Lúc này áp lực tăng cao đẩy thai ra ngoài. Khi thai ra, rốn thai tự đứt. Lợn là một loài đa thai nhưng lợn đẻ từng con một thường thì cứ 15 – 20 phút nái sinh được 1 lợn24 con, cũng có khi nái sinh liên tiếp nhiều con rồi nghỉ một thời gian. Nếu ra nước ối và phân xu sau 1-2 giờ rặn đẻ nhiều mà không đẻ hoặc con nọ cách con kia trên 1 giờ được bộ phận kĩ thuật ca thiệp. Bình thường trong vòng 3 – 4 giờ nái sẽ đẻ hết số con và nhau được tống ra ngoài. Những nái tống nhau ra ngoài hàng loạt sau chót sẽ ít bị viêm nhiễm đường sinh dục vì kèm theo nhau thì có những chất dịch hậu sản cũng được bài thải ra khỏi ống sinh dục. Không nên can thiệp bằng oxytocin khi nái chưa đẻ được lợn con đầu tiên, nếu cần thiết thì nên khám vùng lỗ xương chậu nhưng không thọc tay vào quá sâu bên trong. Cần chú ý đến dấu hiệu sót nhau Nái đẻ hết con thì nhau sẽ được tống ra ngoài, khi cho con bú nếu nái vẫn còn cong đuôi kèm thỉnh thoảng nín thở, ép bụng thì báo hiệu tình trạng sót con hay sót nhau. * Kỹ thuật đỡ đẻ Người đỡ đẻ cần cắt móng tay và rửa sạch tay trước khi đỡ đẻ, khi thai ra tiến hành các công việc đỡ đẻ như sau - Lau dịch nhờn một tay cầm chắc mình lợn, một tay dùng khăn khô lau sạch dịch nhờn ở mồm, mũi và toàn thân cho lợn con, tạo điều kiện cho lợn hô hấp thuận lợi và tránh cho lợn bị cảm lạnh. Các động tác cần làm nhẹ nhàng, khéo léo để lợn con không kêu ảnh hưởng đến lợn mẹ. - Cắt rốn Dùng chỉ thắt lại chỗ cắt, độ dài rốn để lại là 4–5 cm rồi cắt bằng kéo đã sát trùng, sau đó dùng cồn sát trùng vết cắt. - Đẻ được 4 – 5 con thì cho ra bú sữa đầu. - Mài nanh Dùng máy mài nanh, số nanh phải mài là 8 cái, trong đó gồm 4 răng nanh và 4 răng cửa sau. Không mài nanh quá nông vì mài nông răng vẫn còn nhọn dễ làm tổn thương vú lợn mẹ khi lợn con bú, mài quá sâu sát lợi dễ gây viêm lợi cho lợn con. - Cắt đuôi Để tránh hiện tượng cắn đuôi nhau nên cắt đuôi cho lợn con mới sinh ra trong vòng 24 giờ để giảm stress cho lợn con. Sử dụng kéo bấm đã sát trùng để cắt đuôi lợn hoặc dùng kéo điện đã cắm Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước Tình hình nghiên cứu trong nước Việc nghiên cứu về giai đoạn lợn con theo mẹ và sau cai sữa được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm, giai đoạn lợn con theo mẹ có đặc điểm là lợn con sinh ra không được cung cấp nguồn dinh dưỡng trực tiếp như khi còn là bào thai. Bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện, môi trường sống thay đổi, lượng sắt do mẹ cung cấp giảm dần, lợn con dễ mắc bệnh đặc biệt là bệnh đường tiêu hóa. Theo Trần Cừ 1996 [6], cần tập cho lợn con ăn sớm, vừa bổ sung thêm chất dinh dưỡng vừa có tác dụng bổ sung thêm chất tiết dịch vị, tăng hàm lượng HCL và enzyme vừa kích thích sự phát triển của dạ dày và ruột để thích ứng kịp thời với chế độ ăn sau cai sữa. Theo Nguyễn Quang Linh 2005 [18], lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục rất nhanh. Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa trọng lượng của lợn con tăng 10 - 12 lần. So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần. Tốc độ sinh trưởng của lợn con là không đồng đều. Lợn sinh trưởng nhanh nhất trong 21 ngày đầu sau đó tốc độ sinh trưởng giảm dần. Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm. Sản lượng sữa mẹ tăng dần từ khi mới đẻ ra cho tới khi lợn con 15 ngày tuổi, lúc này hàm lượng sữa mẹ đạt cao nhất và ổn định cho tới ngày thứ 20, sau đó thì giảm dần. Lợn con trong giai đoạn này sinh trưởng và phát dục nhanh nhất do đó nhu cầu dinh dưỡng yêu cầu ngày càng cao trong khi hàm lượng sữa mẹ thì giảm dần dẫn tới lợn con thiếu dinh dưỡng nếu không có thức ăn bổ sung. Theo Trần Cừ 1992 [5], sự phát triển của cơ thể thì các cơ quan bộ phận, hàm lượng các chất dinh dưỡng, các thành phần của cơ thể cũng có sự thay đổi nhanh chóng. Hàm lượng nước trong cơ thể giảm dần, biểu thị bằng tỷ lệ giữa nước so với trọng lượng sống như sau Lúc sơ sinh tỷ lệ này là26 77,88%, lúc 7 ngày tuổi là 68,52%, lúc 14 ngày tuổi là 63,94%. Tỷ lệ nước giảm nhưng tỷ lệ các chất dinh dưỡng so với trọng lượng cơ thể lại tăng. Tỷ lệ Pr với trọng lượng cơ thể sống lúc mới sinh là 11,2%, đến lúc 7 ngày tuổi là 13,57%, đến 14 ngày tuổi là 14,37%. Theo Trần Văn Phùng và cs 2004 [20], lợn con cho bú sữa có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn, tốc độ nhanh nhất là 21 ngày đầu, sau 21 ngày tốc độ giảm xuống có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân song chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm xuống, hàm lượng trong máu của lợn con bị giảm. Bị giảm tốc độ phát triển thường kéo dài 2 tuần và còn là giai đoạn khủng hoảng của lợn con tập ăn sớm để bổ sung thức ăn cho lợn con trong giai đoạn này. Lê Văn Thọ 2007 [22], đã sử dụng kích tố kích thích quá trình tạo máu để duy trì và thúc đẩy quá trình phát triển của gia súc. Đặng Xuân Bình 2000 [1] đã xác định vai trò của vi khuẩn và Clostridium perfingens đối với bệnh của lợn con trong giai đoạn 1 - 35 ngày tuổi và bước đầu nghiên cứu và chế tạo một số chế phẩm sinh học phòng bệnh. Công ty Pig Việt Nam 1998 [4], đã khẳng định rằng Dù cho lợn nái ăn tốt và nhiều sữa vẫn nên cho lợn con dùng cám tập ăn sớm để tăng khối lượng sau cai sữa, thêm vào đó giúp lợn con làm quen với cám khô sau khi cai sữa 3 - 4 tần tuổi, cho lợn con tập ăn sớm ở 7 ngày tuổi, dùng loại máng ăn nhỏ, nhẹ, dễ cọ rửa, cho lợn con ăn bằng cách rải một ít cám phía trước, tạo cho chúng niềm vui thích và mong muốn được ăn, không để máng ăn trực tiếp dưới bóng đèn sưởi và gần vòi uống. Cho lợn tập ăn 3 - 4 lần/ ngày, dần tăng lượng cám lên, cung cấp nước uống thường xuyên cho lợn con. Công ty Cargill tại Việt Nam 2003 [2], đưa ra lý do mà các nhà chăn nuôi cần phải cho lợn tập ăn sớm từ 7 - 10 ngày là27 + Sau 21 ngày tiết sữa, lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần. Nên chỉ đáp ứng được 95% nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con. + Cho lợn tập ăn sớm, thức ăn tập ăn sớm sẽ kích thích hệ tiêu hóa lợn con sớm phát triển. Điều đó giúp lợn con khi cai sữa sẽ ăn, tiêu hóa và hấp thu tốt thức ăn và làm giảm được sự hao hụt lợn mẹ. + Tránh được nguy cơ lợn mẹ bị yếu chân, bại liệt và giảm số con đẻ ở những lứa đẻ tiếp theo. + Rút ngắn được thời gian chờ phối của lợn nái, làm giảm chi phí thức ăn cho lợn nái trong thời gian này. + Tăng nhanh lứa đẻ, số lợn con thu được của một nái trên năm. Công ty liên doanh Việt Pháp Guyo mare 2003 [3], đã đưa ra những lời khuyến cáo sự tiết sữa của lợn nái chỉ tăng lên đến ngày thứ 21 kể từ khi sinh, sau đó giảm dần. Ngược lại, khối lượng lợn con tăng dần theo thời gian. Vì vậy, trong thời gian lợn con theo mẹ cần phải tập ăn sớm cho chúng trước khi lượng sữa của lợn mẹ cung cấp thiếu bằng cách cho lợn tập ăn sớm từ 7 ngày tuổi. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Sokol 1981 [27], cho rằng, vi khuẩn E. coli cộng sinh có mặt thường trực trong đường ruột của người và động vật, trong quá trinh sống vi khuẩn có khả năng tiếp nhân các yếu tố gây bệnh như yếu tố bám dính K88, K99, yếu tố dung huyết Hly, yếu tố canh tranh Colv, yếu tố kháng kháng sinh R và các đôc tố đường ruột. Các yếu tố gây bệnh này không được di truyền qua DNA của chromosome mà được di truyền qua DNA nằm ngoài chromosome gọi là plasmid. Những yếu tố gây bênh này đã giúp cho vi khuẩn E. coli bám dính vào nhung mao ruôt non, xâm nhâp vào thành ruột, phát triển với số lượng lớn. Sau đó vi khuẩn thực hiện quá trình gây bệnh của mình bằng cách sản sinh độc tố, gây hội chứng tiêu chảy, phá huỷ tế bào niêm mạc Smith 1967 [26], thông báo có 2 loại độc tố là thành phần chính của Enterotoxin được tìm thấy ở các vi khuẩn gây bệnh. Sự khác biệt của độc tố này là độc tố chịu nhiệt Heat Stabletoxin - ST chịu được nhiệt lớn hơn 1000C trong 15 phút, còn độc tố không chịu nhiệt Heat labiletoxin - LH bị vô hoạt ở nhiêt độ 600C trong 15 phút. Glawischning E. 1992 [25], xác định Clostridium perfringens type A và type C là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy và đã gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi. Akita 1993 [24], đã nghiên cứu sản xuất kháng thể đặc hiệu qua lòng đỏ trứng gà dùng trong phòng và chữa bệnh tiêu chảy ở lợn con. Cùng với sự phân lập và nghiên cứu các yếu tố gây bệnh của viêc nghiên cứu và sản xuất các chế phẩm phòng tiêu chảy ở lợn cũng được các nhà khoa học trên thế giới đặc biệt quan tâm. Một số bệnh thường gặp ở lợn con Bệnh phân trắng lợn con Bệnh thường xảy ra đối với lợn con ở giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng hay gặp nhất khi thời tiết thay đổi như nóng lạnh thất thường, mưa nhiều, gió bão Nguyên nhân của bệnh thường là do lợn mẹ không được ăn đủ chất, đặc biệt là các loại khoáng chất và vitarnin làm lợn con kém phát triển, sức đề kháng yếu lai gặp lúc thời tiết thất thường, nền chuồng ầm ướt nên dễ bị nhiễm bệnh. Bệnh cũng có thể còn được gây nên bởi tình trạng chậm được bú sữa đầu, sức đề kháng giảm, một số vi khuẩn gây bệnh ỉa chảy phát triển, tăng độc lực gây bệnh ở lợn con yếu. Khi nhiễm bệnh, lợn con kém bú, dáng ủ rũ, đi đứng xiêu vẹo. Lợn con tiêu chảy, da nhăn nheo, gầy nhanh, hậu môn thương dính bết phân màu trắng lúc đầu phân màu xanh đen, sau chuyển sang màu xám rồi cuối cùng là màu trắng. Lợn hay khát nước, đôi khi nôn ra sữa chưa được tiêu Bệnh kéo dài khoảng 2 - 7 ngày làm lợn con suy kiệt nhanh, co giật, run rẩy và chết. Tỷ lệ chết từ 50- 80%. Đôi khi cũng gặp trương hợp lợn ở 40 - 50 ngày tuổi nhưng vẫn bị ỉa phân trắng nếu còn bú mẹ nhưng thường biểu hiện nhẹ hơn, tỷ lệ sống sót cao hơn nhưng còi cọc, chậm phát triển. Để phòng bệnh, người chăn nuôi cần chú ý chăm sóc lợn mẹ đầy đủ dinh dưỡng ở giai đoạn có thai và nuôi con. Chuồng nuôi lợn con cần khô ráo, tránh gió lùa, mưa tạt và phải có sân vận động không trơn trượt. Cố gắng cho lợn con bú được sữa đầu sớm nhất. Sớm bổ sung thức ăn cho lợn con, đồng thời tiêm thuốc bổ sắt dextran sắt cho lợn con. Đối với lợn mẹ cần tiêm autovacxin trước 1 - 2 tuần trước khi đẻ hay cho lợn mẹ uống 3 - 4 lần sau khi đẻ. Khi lợn đã mắc bệnh, dùng ngay các thuốc đặc trị tiêu chảy như neomyxin, antidia, becberin, nước sắc các loại lá, quả chát như hồng xiêm, lá sim, lá ổi, Đồng thời giữ ấm và khô ráo chuồng. Bệnh viêm khớp Nguyên nhân Do các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể lợn con theo đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm răng, bấm tai, các vết thương trên chân, da, đầu gối khi chúng chà sát trên nền chuồng cứng khi bú. Lợn con sau khi sinh không được bú sữa đầu từ lợn mẹ đầy đủ. Triệu chứng Lợn con đi lại khập khiễng từ 3-4 ngày tuổi. Khớp chân sưng lên. Dấu hiệu viêm có thể thấy trên mọi ổ khớp nhưng thường thấy nhất là khớp cổ chân, khớp bàn chân. Khi rạch ổ khớp thấy trong khớp có mủ đặc . Biện pháp điều trị Dùng thuốc gentamox AP với liều 1ml/10 kgTT,tiêm bắp. Kết hợp tiêm dexa kháng viêm, chống dị ứng, phù nề với liều 1ml/15 kg TT. Nếu sốt tiêm analgine + C với liều 1ml/10 kg TT, tiêm liên tục trong 3 - 5 ngày30 Ngoài ra ta hạn chế cho lợn di chuyển đi lại, những tấm đan bị hỏng, kém chất lượng cần phải thay thế. Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ Theo Trần Đức Hạnh 2013 [12] lợn con ở 1 số tỉnh phía Bắc mắc tiêu chảy và chết với tỷ lệ trung bình là 31,84% và 5,37%, tỷ lệ mắc tiêu chảy và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ 21 - 40 ngày 30,97 và 4,93% và giảm ở giai đoạn 41 - 46 ngày. Nguyễn Chí Dũng 2013 [10] kết luận tháng có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao, tỷ lệ mắc tiêu chảy cao 26,98 - 38,18%. - Nguyên nhân + Do thời tiết khí hậu các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể Đoàn Thị Kim Dung, 2004 [9]. + Lợn con bị nhiễm khuẩn theo Phạm Sỹ Lăng 2009 [16], bệnh tiêu chảy ở lợn có nguyên nhân do vi khuẩn E. coli, Salmonella, trong đó Salmonella là vi khuẩn có vai trò quan trọng trong quá trình gây ra hội chứng tiêu chảy Radosits và cs., 1994 [32]. + Theo Sa Đình Chiến và Cù Hữu Phú 2016 [7], phương thức chăn nuôi truyền thống có tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy là 31,1% và tỷ lệ chết chiếm 23,4%. Phương thức chăn nuôi công nghiệp tỷ lệ mắc là 33,8% và tỷ lệ chết chiếm 21,5%. + Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung. + Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần. + Bệnh tiêu chảy trên heo con do có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi và 7 – 14 ngày tuổi31 - Triệu chứng + Sàn chuồng có phân lợn lỏng, màu vàng hoặc màu trắng. + Trong chuồng có hiện tượng lợn nôn ra sữa. + Người lợn con bị bẩn do dính phân. + Vú lợn mẹ dính phân lợn con. - Điều trị + Với vimenro 1 ml/con/ngày sử dụng tiêm bắp đối với lợn con 10 ngày tuổi. + Với nor - 100 1 ml/con/ngày sử dụng tiêm bắp đối với lợn con 10 ngày tuổi. + Điều trị liên tục trong 3 - 5 PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH Đối tượng Đàn lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi Địa điểm và thời gian tiến hành - Địa điểm tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến liên kết với công ty CP - Thời gian từ 20/11/2018 đến 25/05/2019 Nội dung thực hiện - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn thực tập. - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại. - Biện pháp phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại. Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện Các chỉ tiêu theo dõi - Tỷ lệ lợn mắc bệnh Số lợn nhiễm bệnh Tỷ lệ nhiễm bệnh % = x 100 Số lợn theo dõi - Tỷ lệ khỏi ∑ Số con khỏi con Tỷ lệ khỏi % = x 100 ∑ Số con điều trị con Phương pháp thực hiện Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn thực tập. - Phương pháp thu thập thông tin gián tiếp Tiến hành thu thập thông tin từ cán bộ kỹ thuật của trại và các tài liệu, báo cáo được lưu trữ tại trại - Phương pháp thu thập thông tin trực tiếp Trực tiếp theo dõi, ghi nhận số liệu về tình hình sản xuất thực tế của Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại - 1 ngày sau khi đẻ cho uống kháng sinh colamox Ap 1 ml/con, mài nanh, cắt đuôi, tiêm sắt. - 2 ngày sáng uống kháng sinh colamox Ap 1 ml/con - 5 ngày cho uống cầu trùng, thiến, khi thiến tiêm kháng sinh amoxi La Ap liều0,5ml/con, sát trùng vị trí thiến. - 7 ngày lắp máng tập ăn. - 21 -28 ngày cai sữa lợn con. Các thao tác mài lanh bấm đuôi + Chuẩn bị máy mài nanh, kìm cắt đuôi, cồn sắt trùng, thuốc kháng sinh, sắt. + Lợn con sau khi đẻ khoảng nửa ngày hoặc một ngày thì được mài nanh, bấm đuôi. + Thao tác mài nanh bắt lợn con kẹp vào đùi, mở miệng lợn con mài bằng phẳng từng bên một. Sauk hi mài nanh xong túm hai chân sau dung kìm bấm đuôi, bấm 2/3 đuôi phía ngoài trước khi bấm cần cắm kìm 15 phút đạt 3000C. Sau đó sát trùng vị trí bấm bằng cồn. * Tiêm chế phẩm fe - dextran với liều lượng 2ml/con * Thiến và cho uống cầu trùng lợn con được 5 - 7 ngày tiến hành thiến đối với con đực và cho uống cầu trùng đối với cả đàn. - Bấm tai Bấm tai khi lợn 1 ngày tuổi. Lợn con được bấm tai theo quy định riêng của trại. - Thiến lợn đực Chuẩn bị dụng cụ thiến đầy đủ gồm dao thiến, cồn sát trùng, panh kẹp, bông, xi - lanh tiêm, thuốc kháng sinh, thuốc cầu trùng, bàn đựng đồ, ghế ngồ. + Thao tác người thiến ngồi ghế cao và kẹp lợn con vào giữa hai đùi sao cho đầu của lợn con hướng xuống dưới. Một tay nặn cho dịch hoàn nổi rõ, tay còn lại cầm dao rạch hai vết đứt vào chính giữa của mỗi bên dịch hoàn. Dùng34 tay nặn dịch hoàn ra ngoài rồi lấy panh kẹp và xoắn đứt dịch hoàn ra, bôi cồn vào vị trí thiến. Tiêm 0,5 ml amoxi - LA - AP chống viêm nhiễm và cho uống cầu trùng baycox 5% *Tập ăn sớm lúc 7 ngày tuổi. + Cách tập ăn cho lợn con ăn sớm như sau Đầu tiên cho ăn một ít thức ăn trong máng ăn đặt vào ô chuồng để lợn con làm quen với thức ăn. Sau khi lợn con đã quen và ăn được, từ từ tăng lượng thức ăn lên trộn thêm amox. Trang trại sử dụng loại thức ăn dạng viên và loại thức ăn tổng hợp dạng bột 550PF cho lợn con từ 7 ngày tuổi đến 15 kg của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam. Đồng thời hang ngày điều trị cho những lợn con mắc hội chứng tiêu chảy và các bệnh khác khi phát hiện. *Cai sữa cho lợn con Khi lợn con được 21 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn con đối với những đàn cố khối lượng từ 5,5 kg đến 7 kg, không mắc bệnh và có sức khỏe tốt. Phương pháp xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại Để xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn con, tiến hành theo dõi hàng ngày, thông qua phương pháp chẩn đoán lâm sàng. Bằng mắt thường đánh giá qua biểu hiện lâm sàng như trạng thái cơ thể, các dịch rỉ viêm, trạng thái, màu sắc phân Phương pháp xử lý số liệu Số liệu thu được từ kết quả theo dõi của chuyên đề được xử lý bằng phần mềm Excel năm PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Tình hình chăn nuôi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến qua 2 năm Bảng Tình hình chăn nuôi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến qua 2 năm STT Loại lợn Đơn vị Năm 2018 5 - 2019 1 Lợn đực giống con 39 33 2 Lợn hậu bị con 240 220 3 Lợn nái sinh sản con 2215 2180 Tổng con 2455 2420 Qua bảng cho ta thấy, kết quả sản xuất của trại lợn giảm xuống. Số lợn nái sinh sản từ năm 2018 là 2215 nái, tới tháng 5 - 2019 giảm xuống còn 2180 nái, lợn đực cũng giảm theo số lượng nái từ 39 đực năm 2018 xuống còn 33 đực đến tháng 5 năm 2019, lợn hậu bị cũng giảm xuống từ 240 con còn 220 con. Số lượng lợn năm 2019 giảm là do lúc này người chăn nuôi đang gặp vấn đề nghiêm trọng, họ đang đối mặt với dịch bệnh “dịch tả lợn châu phi” chính vì thế mà trại không nhập lợn về đồng thời trại loại bỏ những con lợn có sức đề kháng kém, không còn có khả năng sinh sản. Thực hiện biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại Chăm sóc, nuôi dưỡng là một quy trình không thể thiếu của bất kỳ trại chăn nuôi nào. Chính vì vậy, trong suốt 6 tháng thực tập, em đã được tham gia và làm các công việc về nuôi dưỡng, chăm sóc cho đàn lợn tại trại, được học hỏi rất nhiều kiến thức về cách cho ăn, các thao tác kỹ thuật để chăm sóc lợn mẹ và lợn con theo Bảng Số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại lợn thực tập Con đực Con cái Tổng Tháng con con con 12/2018 280 302 582 01/2019 423 225 648 02/2019 312 228 540 03/2019 349 353 702 04/2019 224 325 549 05/2019 324 275 599 Tổng 1912 1708 3620 Kết quả việc chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con theo mẹ được thể hiện qua tỷ lệ sống của lợn con. Tỷ lệ nuôi sống lợn con được trình bày tại bảng dưới đây Bảng Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại lợn Con đực Con cái Số con Số con Số con Số con Tháng còn Tỷ lệ còn Tỷ lệ theo dõi theo dõi sống % sống % con con con con 12 280 270 96,43 302 295 97,68 01 423 413 97,64 225 220 96,49 02 312 307 98,39 228 223 97,80 03 349 343 98,28 353 353 100,0 04 224 220 98,21 325 319 98,15 20-05 324 324 100,0 275 273 99,27 Tổng 1912 1877 98,17 1708 1683 98,5437 Nhìn vào bảng cho thấy tỷ lệ nuôi sống của lợn con là khá cao, cụ thể ở nhóm lợn đực theo dõi trong tháng 02 đạt tỷ lệ sống 98,39 nhóm lợn cái đạt 97,80. Ở nhóm lợn đực, cái ở tháng 05 cũng diễn biến tương tự lần lượt là 100% và 99,27%. Điều này chứng minh rằng với một điều kiện chăm sóc tốt lợn con sinh ra và lớn lên khỏe mạnh dẫn đến tỷ lệ nuôi sống cao hơn. Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại Biện pháp vệ sinh phòng bệnh Vệ sinh là một trong những khâu quan trọng quyết định tới hiệu quả chăn nuôi. Vệ sinh bao gồm vệ sinh chuồng nuôi, vệ sinh đất, nước và môi trường xung quanh trang trại Hiểu được tầm quan trọng của vệ sinh trong chăn nuôi nên trong suốt quá trình thực tập, em tiến hành vệ sinh Hàng ngày, vệ sinh chuồng trại, tẩy rửa sàn chuồng, dọn rửa máng ăn, trút bỏ cám thừa và ẩm ướt. Định kỳ vệ sinh môi trường xung quanh chuồng trại như Khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, rắc vôi bột trong chuồng, diệt động vật mang mầm bệnh như Ruồi, chuột, nhện nhằm ngăn chặn dịch bệnh xảy ra. Hàng ngày phun thuốc sát trùng APA CLEAN để tránh mầm bệnh từ bên ngoài vào khu vực chăn nuôi. Cách pha thuốc 50ml thuốc / 20 lít nước sạch Một chuồng phun hết 2 bình có thể tích là 20 lít Cách tiến hành cho 50ml thuốc vào bình phun chứa 20 lít nước sạch. Lắc đều bình sau đó chúng ta đi từ từ để phun quanh chuồng từ hành lang đến gầm chuồng Mỗi tuần tiến hành khử trùng hành lang, gầm chuồng một lần bằng nuớc vôi. Cách tiến hành là lấy nước vôi đã được tôi ở hố vôi mang vào sử dụng. Một chuồng sử dụng hết 320 lít nước vôi đã tôi sẵn38 Cứ đến thứ 3 hàng tuần thì em lại xả vôi xút gầm 1 lần Tỷ lệ vôi với xút là 1 kg xút + với 2 kg vôi bột pha vào xe 80 lít nước. Một chuồng dùng hết 320 lít nước Cách tiến hành cho 1 kg xút vào xe chứa 80 lít nước hòa tan xút với nước sau đó cho 2 kg vôi bột vào. Đi thật chậm dùng xô múc lấy đung dịch nước đã pha để dội kín gầm. Đối với chuồng đẻ sau khi cai sữa, lợn mẹ và lợn con đã được chuyển đi tiến hành tháo dỡ các tấm đan, đem ngâm ở bể sát trùng một ngày, sau đó xịt sạch. Ô chuồng, khung chuồng cũng được xịt sạch bằng dung dịch thuốc sát trùng APA CLEAN với nông độ pha loãng 5%. Gầm chuồng cũng được tiêu độc khử trùng sạch sẽ bằng vôi. Để khô ráo rồi tiến hành lắp các tấm đan vào, sau đó đuổi lợn chờ đẻ vào. Do trại thường xuyên có đài truyền hình khách quan ra vào trại nên việc thực hiện phun thuốc sát trùng xung quanh chuồng được tăng cường. Sau mỗi buổi làm trước khi ra khỏi chuồng thu dọn, sắp xếp dụng cụ, quét lối đi giữa các Bảng Lịch sát trùng tại trại lợn Trong chuồng Ngoài khu Ngoài Thứ Chuồng nái Chuồng vực chăn Chuồng đẻ chuồng chửa cách ly nuôi Phun sát Phun sát trùng Phun sát Phun sát trùng 2 trùng Rắc vôi trùng toàn khu vực Phun thuốc khử mùi Phun sát trùng 3 Rắc vôi Rắc vôi Xả vôi, xút toàn bộ khu vực gầm Phun sát Phun sát trùng Phun sát trùng 4 trùng Xả vôi xút Rắc vôi Rắc vôi gầm Phun thuốc Rắc vôi diệt ruồi 5 Phun ghẻ Rắc vôi bột Phun ghẻ Phun thuốc khử mùi Phun sát Phun sát Trùng Phun sát 6 trùng Phun sát trùng Phun thuốc Trùng Rắc vôi khử mùi Phun thuốc Vệ sinh khử mùi Vệ sinh tổng Vệ sinh 7 Phun sát trùng tổng chuồng Vệ sinh tổng chuồng tổng khu chuồng Phun sát Phun sát Phun sát CN Phun sát trùng trùng trùng trùng40 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin của trại Lịch tiêm phòng vắc xin ở trại được trình bày ở bảng Bảng Lịch tiêm phòng vắc xin của trại Ngày tuổi Bệnh được phòng Vắc xin phòng bệnh Lợn con 7 Cầu trùng Baycox 14 Bệnh suyễn Vắc xin RES-VAC 21 Bệnh Circo virus Circo Pigvac Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh, việc tiêm phòng vắc xin chủ động trong cơ thể chúng để chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh vi rút, vi khuẩn, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Nhận thức rõ vấn đề này, trại luôn luôn thực hiện quy trình tiêm phòng vắc xin thường xuyên, nghiêm túc nhằm ngăn chặn dịch bệnh. Thời gian tổ chức tiêm phòng thường vào buổi sáng khi thời tiết mát mẻ. Công tác chuẩn bị và tiêm phòng được thực hiện một cách nghiêm túc, cẩn thận. Trong thời gian thực tập, em đã cùng cán bộ kỹ thuật của trại tiến hành tiêm phòng cho đàn lợn theo đúng quy định. Công tác khác Ngoài việc chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn và tiến hành nghiên cứu chuyên đề khoa học, em còn tham gia một số công việc khác như chăm sóc lợn mẹ, tiêm oxytocin cho lợn mẹ sau khi sinh, đỡ đẻ, tiêm sắt cho lợn con, thiến lợn đực. Các công việc chuẩn bị cho lợn nái sinh là vệ sinh lợn mẹ, vệ sinh ô chuồng, khâu úm, lấy thảm lót cho vào lồng úm lợn con, lấy bóng điện sưởi ấm cho lợn con, trực lợn đẻ, tiêm sắt cho lợn con, xịt ô, xịt sàn Kết quả thực hiện những công việc khác trong thời gian thực tập tại cơ sở được thể hiện qua bảng Bảng Kết quả thực hiện những công việc khác trong thời gian thực tập tại cơ sở Số lượng Thực hiện Tỷ lệ STT Công việc con con % 1 Đỡ đẻ cho lợn 320 228 71,25 2 Mài nanh, bấm tai, cắt đuôi 3620 3019 83,40 3 Thiến lợn đực 1912 1389 72,65 4 Tiêm nova - Fe+B12 3620 3019 83,40 5 Nhỏ vắc xin cầu trùng 3620 3021 83,45 6 Xuất lợn con 3541 1973 55,72 7 Chăm sóc lợn mẹ 320 320 100 Tiêm oxytocin cho lợn mẹ sau 8 320 228 71,25 khi sinh Qua bảng có thể thấy, trong thời gian thực tập e có thực hiện 1 số công việc khác như sau Đã thực hiện đỡ đẻ cho 228 lợn mẹ trong tổng 320 lợn mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng đúng kĩ thuật đạt tỷ lệ 71,25%. Em đã mài nanh, bấm tai, cắt đuôi cho 3019 lợn con trong tổng 3620 và đạt tỷ lệ 83,40% Bấm số tai, cắt đuôi sớm để ít chảy máu và giảm stress cho lợn con. Mài nanh sớm làm giảm bớt việc làm tổn thương tới vú lợn mẹ khi bú và việc lợn con cắn nhau. Em đã tham gia thiến 1389 lợn đực trong tổng 1912 lợn đực, tiêm sắt và nhỏ vắc xin cầu trùng cho 3021 lợn con trong tổng 3620 lợn con đạt 83,45%. Thiến lợn đực khi đủ 5 ngày tuổi sẽ giảm bớt việc mất máu khi thực hiện thủ thuật. Ngoài ra, tham gia xuất lợn 1973 con trong tổng 3541 con đạt 55,72%. Ngoài việc chăm sóc lợn con ra em còn chăm sóc cả lợn mẹ. Số con mà em chăm sóc là 320 con trong tổng số 320 con đạt tỷ lệ 100%.42 Khi lợn mẹ sinh xong trại em thường tiêm 1ml oxytocin để giúp cho con mẹ có sức rặn đẩy hết rau còn sót trong bụng mẹ ra. Em đã trực tiếp tiêm 228 con trong tổng 320 con đạt tỷ lệ 71,25%. Kết quả thực hiện chuyên đề Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh sát trùng chuồng trại Bảng Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại Đơn vị Số Thực Tỷ lệ TT Công việc tính lượng hiện % 1 Vệ sinh chuồng trại hàng ngày Lượt/ ngày 120 114 95,00 Sát trùng định kỳ xung quanh 2 Lượt/ tuần 51 42 82,35 chuồng trại 3 Phun sát trùng trong chuồng Lượt/ ngày 120 25 20,83 4 Quét và rắt vôi đường đi Lượt/ ngày 120 114 95,00 Việc vệ sinh, sát trùng hàng ngày luôn được trại quan tâm và làm thường xuyên hàng ngày. Theo quy định của trại việc vệ sinh chuồng trại hàng ngày sẽ được thực hiện ít nhất 1 lần/ngày, và trong 4 tháng thực tập tại trại đã thực hiện được 114 lần đạt tỷ lệ 95% so với số lần phải vệ sinh trong 4 tháng. Sát trùng định kỳ xung quanh chuồng trại được thực hiện 3 lần/ tuần và đã thực hiện được 42 lần trong 4 tháng thực tập đạt tỷ lệ 82,35% so với số lần phải thực trong 4 tháng tại trại. Phun sát trùng trong chuồng được phun 1 lần/ngày và đã thực hiện được 25 lần trong 4 tháng thực tập đạt tỷ lệ 20,83% so với yêu cầu Quét và rắc vôi đường đi trại thực hiện 1 lần/ ngày và đã thực hiện được 114 lần trong 4 tháng đạt tỷ lệ 95% so với yêu cầu. Qua đó, đã biết được cách thực hiện việc vệ sinh, sát trùng trong chăn nuôi như thế nào cho hợp lý nhằm hạn chế được dịch bệnh cũng như nâng cao sức đề kháng cho vật Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi Trong quá trình thực tập đã trực tiếp được tham gia làm vắc xin cho đàn lợn và được trình bày tại bảng dưới đây Bảng Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con từ 1 đến 3 tuần tuổi nuôi tại trại lợn thực tập Đường Số con Ngày Bệnh được Liều Số lượng Tỷ lệ đưa theo dõi tuổi phòng dùng con % thuốc con 7 Cầu trùng 1ml Uống 3620 3021 83,45 14 Bệnh suyễn 1ml Tiêm bắp 3600 3600 100 Bệnh Circo 21 1ml Tiêm bắp 3580 3580 100 virus Qua bảng cho thấy được kết quả tổng quát về việc phòng bệnh cho đàn lợn con của trại bằng vắc xin. Lợn con được 14 ngày tuổi tiêm vắc xin phòng bệnh suyễn, em cùng anh kỹ sư và chị tổ trưởng đã tiêm 3600 con lợn con trong tổng số 3600 con theo dõi, tỷ lệ đạt 100%. Lợn con được 21 ngày tuổi tiêm vắc xin phòng bệnh circo, em cùng anh kỹ sư và chị tổ trưởng đã tiêm 3580 con trong tổng số 3580 con theo dõi, tỷ lệ đạt 100%.44 Thực hiện các biện pháp phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trại lợn thực tập Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trang trại Bảng Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nuôi tại trang trại Chỉ tiêu theo dõi Số con Số con Tỷ lệ theo dõi mắc bệnh mắc bệnh Tên bệnh con con % Hội chứng tiêu chảy 3620 1598 44,14 Viêm khớp 3620 582 16,08 Viêm phổi 3620 1473 40,69 Kết quả bảng cho thấy Tổng số lợn dõi là 3620 con. Trong đó có 1598 con mắc hội chứng tiêu chảy, chiếm 44,14%. Bệnh viêm phổi mắc 1473 con chiếm 40,69%. Bệnh viêm khớp mắc 582 con chiếm Theo Trần Đức Hạnh 2013 [12], lợn con ở một số tỉnh phía Bắc mắc tiêu chảy và chết với tỷ lệ trung bình là 31,84 % và 5,37 %, tỷ lệ mắc tiêu chảy và chết giảm dần lợn lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ 21 - 40 ngày 30,97 % và 4,93 % và giảm ở giai đoạn từ 41 - 60 ngày 30,27 % và 4,75 %. Lợn con mắc hội chứng tiêu chảy là 1598 con chiếm 44,14%. Lợn con bị tiêu chảy có rất nhiều nguyên nhân, có thể do nhiễm vi trùng, do thức ăn bị hỏng, hay đôi khi lại là do sinh lý, quản lý của con người không tốt. Lợn con bị tiêu chảy sẽ làm cho lợn con gầy còm ốm yếu, giảm sức đề kháng, giảm tăng trọng, thậm chí dẫn đến gây chết cho lợn con Lợn con mắc bệnh viêm phổi là 1473 con chiếm 40,69%. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh viêm phổi cao là do những tháng đầu chưa quen với công việc, kiến thức chuyên môn chưa cao, thời tiết thay đổi thất thường và em không điều chỉnh nhiệt độ trong chuồng tốt, không giữ ấm cho lợn con Kết quả điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trang trại Bảng Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trại lợn thực tập Số con Số Tỷ lệ Cách dùng điều con STT Tên bệnh Thuốc khỏi Liều lượng trị khỏi bệnh con con % Hội chứng Norflox 100 1ml/2-5 kg TT 1 tiêu chảy hoặc atropin 1ml/4-6 kg TT 1598 1571 98,31 Bệnh viêm 2 Pendistrep 1ml/ 10 kg TT 582 573 98,45 khớp 3 Viêm phổi Tylogenta 1ml/10 kg TT 1473 1449 98,37 Từ kết quả bảng cho thấy - Đối với hội chứng tiêu chảy Đã tiến hành tham gia điều trị 1598 lợn con bị tiêu chảy trong quá trình thực tập. Thuốc điều trị tiêu chảy được dùng tại trại là norflox 100 hoặc atropin, hiệu quả điều trị khá cao, thời gian điều trị 3 - 5 ngày. Kết quả có 1571 con khỏi đạt tỷ lệ 98,31% - Đối với bệnh viêm khớp dùng thuốc pendistrep tiêm bắp với liều 1ml/10 kgTT, tiêm liên tục 3 - 5 ngày. Kết quả điều trị cho 582 con thì có 573 con khỏi bệnh, đạt tỷ lệ 98,45% - Đối với bệnh viêm phổi dùng thuốc tylogenta AP với liều 1ml/10 kg TT tiêm bắp, thời gian điều trị từ 3 - 5 ngày. Kết quả điều trị cho 1473 con khỏi 1449 con, đạt tỷ lệ 98,37%46 PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ Kết luận Từ kết quả thực tập tốt nghiệp và nghiên cứu chuyên đề trên, em rút ra kết luận như sau Qua thời gian thực tập tại trang trại với chuyên đề "Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con, giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình" em có kết luận sau - Về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng Trại đã thực hiện đúng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn con. Dụng cụ thú y, thức ăn, nước uống, thuốc điều trị luôn đáp ứng được yêu cầu cho hoạt động chăn nuôi tại trại, lợn con có điều kiện phát triển tốt. - Về công tác phòng bệnh Đàn lợn con giai đoạn từ 1 đến 3 tuần tuổi nuôi tại trại chăn nuôi Nhâm Xuân Tiến được tiêm phòng đầy đủ, đạt tỷ lệ 100% và em cũng đã thực hiện công tác phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho đàn lợn con đạt tỷ lệ từ 100%. - Tham gia phòng bệnh cho đàn lợn con bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng chuồng trại thực hiện vệ sinh chuồng trại hàng ngày, quét và rắc vôi đường đi đạt kết quả cao. - Kết quả chẩn đoán bệnh lợn con ở giai đoạn từ 1 đến 3 tuần tuổi lợn chủ yếu mắc hội chứng tiêu chảy chiếm 44,14%, dùng norflo hoặc atropin điều trị hội chứng tiêu chảy, kết quả khỏi 98,31%. - Lợn con mắc bệnh viêm khớp chiếm 16,08%. Dùng pendistrep tỷ lệ khỏi bệnh là 98,45%. - Lợn con mắc bệnh viêm phổi chiếm 40,69%. Dùng tylogenta, tỷ lệ khỏi 98,37%47 Đề nghị Kết thúc đợt thực tập tại trại đã đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi cũng như giảm tỷ lệ mắc bệnh trên lợn con theo mẹ như sau - Công tác vệ sinh thú y cần được nâng cao hơn nữa, đặc biệt nâng cao tinh thần trách nhiệm của công nhân và sinh viên thực tập trong việc vệ sinh chuồng trại và chăm sóc cho lợn mẹ cũng như lợn con. - Cần có kỹ thuật chuyên theo dõi, phát hiện và điều trị bệnh cho lợn con nhằm đem lại kết quả điều trị cao nhất. - Cần tập cho lợn con ăn sớm đặc biệt là trong chăn nuôi tập TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Tài liệu trong nước 1. Đặng Xuân Bình 2000, Xác định vai trò của vi khuẩn Escherchia coli và Clostridium perfringens đối với bệnh ỉa chảy ở lợn con giai đoạn 1 - 35 ngày tuổi, bước đầu nghiên cứu và chế tạo một số sinh phẩm phòng bệnh, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học kỹ thuật. 2. Công ty Cargill tại Việt Nam 2003, Sổ tay kỹ thuật chăn nuôi lợn, Sách tham khảo, lưu hành nội bộ. 3. Công ty liên doanh Việt Pháp Guyo mare 2003, Sổ tay kỹ thuật chăn nuôi lợn, Viện Chăn nuôi. 4. Công ty Pig Việt Nam 1998, Kỹ thuật chăn nuôi lợn, Sách tham khảo, lưu hành nội bộ. 5. Trần Cừ 1992, Cơ sở sinh lý nuôi dưỡng lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 6. Trần Cừ 1996, Giáo trình sinh lý học gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 7. Sa Đình Chiến, Cù Hữu Phú 2016, “Vai trò của vi khuẩn E. coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con dưới hai tháng tuổi ở Sơn La và biện pháp phòng trị”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, 233, 8. Trần Thị Dân 2008, Sinh sản lợn nái và sinh lý lợn con, Nxb Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh. 9. Đoàn Thị Kim Dung 2004, Sự biến động của một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E. coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con, các phác đồ điều trị, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Hà Nội, 10. Nguyễn Chí Dũng 2013, Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn E. coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại tỉnh Vĩnh Phúc và biện pháp phòng trị, Luận án thạc sỹ khoa học Nông nghiệp. 11. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng 1996, Bệnh ở lợn nái và lợn con. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 12. Trần Đức Hạnh 2013, Nghiên cứu vai trò gây bệnh của Escherichia coli,49 Salmonella và Clostridium perfringens gây tiêu chảy ở lợn tại 3 tỉnh phía Bắc và biện pháp phòng trị, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp. 13. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ 2012, Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 14. Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, Trần Thị Lộc 1998, Stress trong đời sống con người và vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 15. Hội chăn nuôi Việt Nam 2002, Cẩm nang chăn nuôi gia súc gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 16. Phạm Sỹ Lăng 2009, “Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn ở lợn và biện pháp phòng trị”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVI số 5. 17. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Bá Hiên 2013, Bệnh của lợn tại Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 18. Nguyễn Quang Linh 2005, Kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 19. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Phạm Ngọc Thạch 1997, Giáo trình bệnh nội khoa gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 20. Trần Văn Phùng, Hà Thị Hảo, Trần Thanh Vân, Từ Quang Hiển 2004, Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội. 21. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Lan Hương 2004, Giáo trình Vi sinh vật thú y. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 22. Lê Văn Thọ 2007, Một số bệnh truyền nhiễm thường gặp ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Lao Động xã hội. 23. Vũ Đình Tôn, Trần Thị Thuận 2006, Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. II. Tài liệu nước ngoài 24. Akita 1993, “Comparison of four purification methols for the production of immunoglobulins from eggs laid by hens immunological methols”, Vet 1601993, - 25. Glawisching E 1992, The Efficacy of E costat on E. Coliinfected weaning pigg, 12th IPVS Congress, August. 26. Smith 1976, “Observations by the ligated segment and oral inoculation methods on Escherichia coli infections in pigs, calves, lamb and rabbits”, Journal of Pathology and Bacteriology 93 - 499. 27. Soko 9/1981, “Neonatal coli - infecie laboratoriana diagnostina a prevencia UOLV – Kosice”, Int J Med Microbiol., P. 44 - 65PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG THỜI GIAN THỰC TẬP TỐT NGHIỆP / Ảnh 1. Thuốc trị tiêu chảy Ảnh 2. Thuốc điều trị tiêu chảy Ảnh 3. Thuốc thị viêm khớp Ảnh 4. Cám sữa cho lợn conẢnh 5. Lợn bị tiêu chảy Ảnh 6. Lợn bị viêm khớp Ảnh 7. Vệ sinh mông lợnẢnh 8. Mài nanh cho lợn con Ảnh 9. Thiến lợn đực Ảnh 10. Bấm tai cho lợn con Ảnh 11. Cắt đuôi cho lợn conẢnh 12. Cho lợn còi uống sữa Ảnh 13. Cho lợn mẹ ăn Ảnh 14. Tiêm vắc xin cho lợn con Ảnh 15. Truyền nước cho lợn nái Ảnh 16. Rắc vôi hành lang chuồng Ảnh 17. Phun thuốc sát trùng
Để đảm bảo yêu cầu kiểm soát dịch bệnh, trang trại đã áp dụng quy trình “Cùng vào- cùng ra”. Thực hiện quy trình này chuồng trại sẽ được để trống 10 - 20 ngày để tẩy rửa, sát trùng và quét vôi lại. Như vậy, việc sản xuất ở các chuồng tạm thời bị gián đoạn một số ngày nhất định theo kế hoạch. Quy trình này có tác dụng phòng bệnh do việc làm vệ sinh chuồng trại thường xuyên, định kỳ mỗi khi xuất lợn để trống chuồng. Đồng thời, ở đây sẽ không có sự tiếp xúc giữa các lô lợn trước với các lô lợn sau, do đó hạn chế khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh từ lô này qua lô khác. Chuồng trại phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè, nền chuồng luôn luôn khô ráo và có độ dốc khoảng 1,5 - 2% để đảm bảo cho phân và nước tiểu được thoát xuống hệ thống cống thoát. Đặc biệt, chuồng trại phải được đối lưu không khí tốt để giảm bớt độ ẩm trong chuồng, tránh cho lợn khỏi các bệnh về đường hô hấp. Biện pháp khắc phục điều kiện thời tiết mùa hè là chuồng nên theo hướng Đông - Nam để đảm bảo ấm áp về mùa đông và thoáng mát về mùa hè, đảm bảo ánh sáng chiếu vào chuồng hạn chế được lượng nhiệt sinh ra do ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp. Biện pháp khắc phục thời tiết mùa đông của trại là treo hệ thống đèn điện bóng tròn ở đầu giàn mát để làm nóng không khí được hút vào chuồng. Vào những hôm nhiệt độ hạ thấp, tiến hành che giàn mát lại để hạn chế không khí lạnh vào chuồng và giảm bớt quạt nhưng không được để tích khí trong chuồng nó sẽ gây viêm phổi. Hàng ngày, em đã tiến hành làm ở chuồng lợn thịt kiểm tra nguồn nước, trại dùng vòi nước uống tự động, nên cần kiểm tra nước chảy mạnh hay yếu hay không có nước. Phải kiểm tra hàng ngày tránh bị kẹt hoặc bị rò rỉ làm ướt nền chuồng. Em đã thường xuyên làm vệ sinh chuồng, máng ăn, thay nước ở máng tắm, đồng thời quan sát các biểu hiện của đàn lợn. Trong thời gian thực tập tại trang trại, em cùng kỹ sư tiến hành chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn thịt đạt năng suất cao và chất lượng tốt. Trang trại thường xuyên thực hiện công tác vệ sinh chuồng trại, khu vực xung quanh cũng như môi trường chung, đảm bảo các điều kiện vệ sinh thú y và tạo môi trường thuận lợi để lợn sinh trưởng phát triển nhanh, đạt hiệu quả kinh tế cao. Chuồng nuôi được xây dựng theo kiểu chuồng kín, trang thiết bị hiện đại, đáp ứng tốt nhu cầu mọi mặt của lợn, chủ động điều chỉnh nhiệt độ, độ thông thoáng của chuồng nuôi. Ở đầu chuồng nuôi, có hệ thống giàn mát giúp thông thoáng vùng tiểu khí hậu trong chuồng nuôi đặc biệt là vào mùa hè khi nhiệt độ cao. Cuối chuồng là hệ thống quạt hút, giúp luân chuyển không khí từ bên ngoài vào trong chuồng rồi đẩy ra ngoài. Máng cho lợn ăn là máng sắt, hình nón, có thể chứa được tối đa 80 kg thức ăn. Từ bảng thức ăn và khẩu phần ăn, thành phần dinh dưỡng của lợn thịt tại trang trại, em đã trực tiếp cho lợn ăn các loại thức ăn theo đúng các giai đoạn phát triển của lợn. Kết quả thực hiện cho lợn ăn được trình bày ở bảng Bảng Kết quả thực hiện cho lợn ăn Loại thức ăn cho ăn Số lợn cho ăn con Khối lượng thức ăn cho ăn kg/con/lứa Tổng khối lượng thức ăn cho lợn ăn đến xuất bán kg/đàn HITEK GF02 700 78 54,600 HITEK GF03 700 94 65,800 HITEK F104 700 53 37,100 Kết quả bảng cho ta thấy một đời lợn thịt của trại được nuôi bằng 3 loại thức ăn khác nhau theo từng giai đoạn phát triển của lợn. Giai đoạn đầu nuôi 7 tuần, thực ăn cho giai đoạn này là HITEK GF02 và tiêu tốn thức ăn trung bình cho một lợn trong giai đoạn này là 78 kg. Giai đoạn hai nuôi 16 tuần, thức ăn là HITEK GF03 và tiêu tốn thức ăn cho một lợn trong giai đoạn này là 94 kg. Giai đoạn 3 bắt đầu nuôi từ tuần tuổi thứ 21 đến khi xuất bán, thức ăn cho giai đoạn này là HITEK F104 và giai đoạn này tiêu tốn trung bình là 53 kg cho một lợn. Như vậy, tổng khối lượng thức ăn để nuôi một con lợn từ lúc cai sữa đến lúc xuất bán là 225kg. Nếu lợn xuất chuồng trung bình là 100 kg thì tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng khoảng 2,25 kg. Kết quả thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn trong 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trại được trình bày ở bảng Bảng Kết quả thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn thịt TT Công việc Số lượng cần thực hiện số lần Khối lượng công việc thực hiện được số lần Tỷ lệ hoàn thành so với nhiệm vụ được giao % 1 Cho lợn ăn hàng ngày 300 300 100 2 Tách lợn ốm để nuôi cách ly 50 50 100 Qua bảng cho thấy, em đã được kỹ sư của trại hướng dẫn thực hiện nghiêm túc công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn thịt theo đúng quy trình. Tổng số lần thực hiện cho lợn thịt ăn là 300 lần và số lần phát hiện lợn ốm để cách ly 50 lần. Số công việc đã thực hiện hoàn thành theo yêu cầu đặt ra là 100%. Theo dõi phát hiện lợn ốm Trong chăn nuôi lợn các yếu tố kỹ thuật, giống, thức ăn, chuồng trại, thú y, công tác quản lý sẽ quyết định đến năng suất và chất lượng, giá thành và lợi nhuận. Với yêu cầu như vậy, trang trại cũng đã tiến hành điều chỉnh nhiệt độ trong chuồng bằng hệ thống quạt gió bóng điện úm với mùa đông và giàn mát với mùa hè sao cho phù hợp với điều kiện thời tiết để đảm bảo lợn được sinh trưởng và phát triển trong điều kiện sống thuận lợi nhất; bên cạnh đó trại cũng tiến hành phân loại lợn tách lợn ốm nặng ra một ô riêng và để ở ô cuối chuồng để có kế hoạch và phương pháp chăm sóc cho đúng nhằm đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho sự phát triển của đàn lợn. Sáng sớm tiến hành kiểm tra tình hình bệnh tật trên đàn lợn, sau đó, cho lợn ăn, vệ sinh chuồng trại và điều trị bệnh cho đàn lợn nếu có phát hiện lợn bị bệnh. Bằng các biện pháp quan sát thông thường, ta có thể đánh giá được tình trạng sức khỏe của đàn lợn và nhận biết được lợn khỏe, lợn yếu, lợn bệnh để tiến hành điều trị. Lợn khỏe thường có các biểu hiện như Trạng thái chung Lợn khỏe mạnh, nhanh nhẹn, vẻ mặt tươi tắn, thích hoạt động, đi lại quanh chuồng, khi đói thì kêu rít đòi ăn, phá chuồng. Nhiệt độ trung bình 38,5oC; nhịp thở 8 - 18 lần/phút. Lợn con có thân nhiệt và nhịp thở cao hơn một chút. Mắt mở to, long lanh, khô giáo, không bị sưng, không có rửa kèm nhèm, niêm mạc, kết mạc mắt có màu vàng nhạt, không có tía. Gương mũi ướt, không chảy dịch, không cong vẹo, không bị loét. Chân có thể đi lại bình thường, không sưng khớp hoặc cơ bắp không bị tổn thương, khoeo chân không bị dính bết phân. Lông mượt, mềm, không rựng đứng, cũng không bị rụng. Phân mềm thành khuôn, không bị táo hoặc lỏng. Màu sắc phân phụ thuộc vào thức ăn, nhưng thường có màu như màu xanh lá cây đến màu nâu, không đen hoặc đỏ. Phân không bị bao quanh bởi màng trắng, không lẫn kí Lợn đi tiểu thường xuyên, nước tiểu nhiều, màu trắng trong hoặc vàng nhạt. Những lợn bị ốm thường có bểu hiện Trạng thái chung Lợn mệt mỏi, nằm im lìm, cách xa con khác hoặc nằm sát tường của ô, đi lại siêu vẹo hoặc không muốn cử động, dù bị đánh cũng không dậy nổi. Lợn kém hoặc bỏ ăn. Lưng gồng lên là do đau bụng hoặc rặn ỉa khi bị táo bón. Nhiệt độ cơ thể thường lên 40oC có khi lên 42oC. Nhịp tim hoặc nhịp thở cao hoặc thấp hơn bình thường. Mắt nhắm hoặc chỉ hé mở, nháy lia lịa khi có ánh sánh chiếu vào, có thể bị mù, viêm kết mặc mắt. Mũi thường bị khô. Nếu mũi bị cong vẹo lợn có thể mắc bệnh viêm teo mũi truyền nhiễm. Mũi bị loét có thể do lợn mắc bệnh ở miệng hoặc mắc bệnh lở mồm long móng LMLM. Chân có thể bị tụt móng, vành và kẽ móng bị loét nếu lợn mắc bệnh LMLM. Khoeo chân bị dính bết phân là do lợn bị ỉa chảy. Lợn có thể bị què, bại liệt, không đi lại được, bếu thức ăn bị thiếu khoáng. Tai có màu tím, đỏ hoặc xanh là do lợn bị sốt, bị dịch tả. Màu của phân rất quan trọng. Màu và mùi khác thường của phân cho thấy lợn đang bị bệnh. Phân màu trắng là bị bệnh phân trắng lợn con, phân màu đen là dấu hiệu bị xuất huyết dạ dày, ruột non, phân màu đỏ là bị xuất huyết ở ruột già, phân có mùi tanh khắm là dấu hiệu của bệnh dịch tả. Nếu quan sát lượng và màu nước tiểu của lợn vì những dấu hiệu không bình thường về lượng và màu cho thấy những vấn đề trong hệ bài tiết. Nước tiểu ít, có màu đỏ là do xuất huyết, màu vàng đỏ có lẫn máu có thể do viêm thận, bàng quang, màu đỏ sẫm có thể do kí sinh trùng đường máu, màu vàng do bệnh gan. Dựa vào quy trình trên, trại đã chủ động, kịp thời phát hiện được những lợn ốm trong đàn, sau đó cách ly, chẩn đoán và điều trị kịp thời. Thực hiện việc phòng và trị một số bệnh thường gặp ở lợn nuôi thịt Kết quả thực hiện công tác vệ sinh sát trùng Công tác vệ sinh trong chăn nuôi là một khâu quyết định tới sự thành bại trong chăn nuôi. Vệ sinh bao gồm nhiều yếu tố vệ sinh môi trường xung quanh, vệ sinh trong chuồng, vệ sinh đất, nước, vệ sinh chuồng trại… Trong quá trình thực tập, em đã thực hiện tốt quy trình vệ sinh trong chăn nuôi. Hàng ngày, em tiến hành dọn vệ sinh chuồng, quét lối đi lại trong chuồng và giữa các dãy chuồng. Định kỳ tiến hành phun thuốc sát trùng, quét mạng nhện trong chuồng, lau kính và rắc vôi bột ở cửa ra vào chuồng và hành lang trong chuồng nhằm đảm bảo vệ sinh chuồng trại sạch sẽ hạn chế, ngăn ngừa dịch bệnh xảy ra. Chuồng nuôi luôn được vệ sinh sạch sẽ, được tiêu độc bằng thuốc sát trùng omnicide định kỳ, pha với tỷ lệ 1/ Kết quả thực hiện công tác sát trùng của trại lợn thịt được trình bày ở bảng Bảng Kết quả thực hiện công tác vệ sinh sát trùng Công việc Số lần/tuần Số tuần thực hiện Kết quả thực hiện lần Tỷ lệ hoàn thành % Phun sát trùng 2 48 35 72,91 Rắc vôi 2 48 33 68,75 Quét mạng nhện 1 24 20 83,3 Vệ sinh kho cám 1 24 17 70,83 Lau kính chuồng 1 24 20 Kết quả bảng cho thấy công việc vệ sinh sát trùng chuồng trại như phun thuốc sát trùng định kì 2 lần/tuần, em đã thực hiện được 35 lần trên 48 lần cần thực hiện đạt tỷ lệ 72,91%. Rắc vôi đường đi quá trình làm giảm mầm bệnh vào trong chuồng,trại quy định 2 lần/tuần, em đã thực hiện được 33 lần trên 48 lần cần thực hiện đạt tỷ lệ 68,75%. Quét mạng nhện trong chuồng làm giảm khói bụi bám vào màng nhện, làm tăng khả năng lợn bị viêm phổi, em đã thực hiện 20 lần trên 24 số lần cần thực hiện đạt tỷ lệ 83,3%. Lau kính chuồng, em đã thực hiện 20 lần trên 24 số lần cần thực hiện đạt tỷ lệ 83,3%. Công tác vệ sinh kho cám sạch sẽ, sẽ không làm cho cám bị rỡi vãi hoặc chuột gặm rơi ra ngoài bị mốc làm ảnh hưởng đến chất lượng của những bao cám khác, em đã thực hiện 17 lần so với số lần cần thực hiện là 24 lần, đạt tỷ lệ 70,83%. Kết quả thực hiện công tác tiêm phòng Từ quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng cho đàn lợn tại trại, em đã tiến hành tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin cho từng con trong đàn lợn thịt nuôi tại trại. Kết quả thực hiện công tác tiêm phòng cho đàn lợn được trình bày ở bảng Bảng Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn thịt Vắc xin tiêm phòng Liều lượng ml/con Thời gian tiêm tuần Số lượng tiêm phòng con Kết quả an toàn sau tiêm phòng Số lượng con Tỷ lệ % Tai xanh 2 4 700 700 100 Dịch tả lần 1 2 5 700 700 100 Lở mồm long móng lần 1 2 6 700 700 100 Dịch tả lần 2 2 8 700 700 100 Lở mồm long móng lần 2 2 9 700 700 100 Kết quả bảng cho thấy, trong thời gian thực tập tại trại em đã được thực tiêm vắc xin phòng bệnh dịch tả 2 lần cho 700 con, tiêm vắc xin phòng bệnh lở mồm long móng 2 lần là 700 con. Kết quả sau khi tiêm là 100% số lợn được tiêm phòng vắc xin đều an toàn, không có bất kỳ biểu hiện gì không an toàn sau khi tiêm. Qua đó cho thấy việc xác định lợn khỏe trước khi tiêm, liều lượng vắc xin tiêm và kỹ thuật tiêm đúng là hết sức quan trọng quyết định hiệu quả của việc tiêm phòng và mức độ bảo hộ đàn lợn sau khi tiêm phòng đối với các bệnh được tiêm phòng. Kết quả chẩn đoán và điều trị một số bệnh ở lợn nuôi thịt Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại trang trại, em đã được tham gia công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn trại trại Vũ Xuân Tính cùng với kỹ sư của công ty Greenfeed. Qua đó, em đã trau dồi thêm kiến thức, kinh nghiệm về chẩn đoán một số bệnh thường gặp, nguyên nhân gây ra bệnh và cách khắc phục, điều trị bệnh cho lợn thịt. Làm tốt công tác chẩn đoán sẽ giúp phát hiện được nhanh và chính xác, từ đó đề ra được phác đồ điều trị phù hợp, hiệu quả cao, tỷ lệ lợn khỏi bệnh cao, giảm tỷ lệ chết, giảm thời gian dùng thuốc và giảm thiệt hại về kinh tế. Vì vậy, hàng ngày, em cùng cán bộ kỹ thuật thú y trại tiến hành theo dõi lợn ở các ô chuồng phát hiện những lợn có biểu hiện khác thường và có phác đồ kịp thời. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh đường hô hấp cho đàn lợn thịt Trong 6 tháng thực tập tại trang trại, em đã cùng kỹ sư chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn. Kết quả thực hiện công tác chẩn đoán và điều trị bệnh đường hô hấp cho đàn lợn nuôi tại trại được em theo dõi, ghi chép và thể hiện trong bảng Kết quả bảng cho thấy lợn thịt mắc bệnh đường hô hấp trong 5 tháng biến động từ 1,14 - 5%. Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp theo từng tháng theo dõi là không cao so với tổng số lợn theo dõi. Nhưng khi tính chung cho 5 tháng thì tỷ lệ lợn thịt mắc bệnh đường hô hấp là 17,1%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với công bố của Đặng Xuân Bình và cs. 2007 cho biết lợn thịt có tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi là 36,53%. Khi lợn bị bệnh, chúng tôi đã tiến hành điều trị ngay và cho kết quả khỏi bệnh theo tháng là từ 87,9 - 100%. Bảng Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh đường hô hấp cho đàn lợn thịt nuôi tại trại Tháng theo dõi tháng Số con theo dõi con Số con mắc bệnh con Tỷ lệ mắc bệnh % Số con khỏi bệnh con Tỷ lệ khỏi bệnh % Số con chết con Tỷ lệ lợn chết % 12 700 24 3,4 24 100 0 0 1 700 20 2,85 20 100 0 0 2 700 8 1,14 8 100 0 0 3 700 33 4,7 29 87,9 4 12,1 4 700 35 5 33 94,3 2 5,7 Tính chung 700 120 17,1 114 95 6 17,8 Kết quả chẩn đoán và điều trị hội chứng tiêu chảy cho đàn lợn thịt
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM-NGUYỄN VĂN VI ̣Tên chuyên đề“THƢ̣C HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƢỠ NG VÀ PHÒNG TRI ̣MỘT SỐ BỆNH Ở LỢN CON, GIAI ĐOẠN TƢ̀ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀYTUỔI TẠI TRANG TRẠI CỦ A CÔNG TY TNHH BẢO LỘC,XÃ TIÊN PHƢƠNG, HUYỆN CHƢƠNG MỸ , TP HÀ NỘIKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCHệ đào tạoChính quyChuyên ngànhThú yKhoaChăn nuôi Thú yKhóa học2013 - 2017Thái Nguyên, 2017ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM-NGUYỄN VĂN VI ̣Tên chuyên đề“THƢ̣C HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƢỠ NG VÀ PHÒNG TRI ̣MỘT SỐ BỆNH Ở LỢN CON, GIAI ĐOẠN TƢ̀ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀYTUỔI TẠI TRANG TRẠI CỦ A CÔNG TY TNHH BẢO LỘC,XÃ TIÊN PHƢƠNG, HUYỆN CHƢƠNG MỸ , TP HÀ NỘIKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCHệ đào tạoChính quyChuyên ngànhThú yLớpK45 - Thú y – N02KhoaChăn nuôi Thú yKhóa học2013 - 2017Giảng viên hƣớng dẫnThS. Trầ n Nhâ ̣t Thắ ngThái Nguyên, 2017iLỜI CẢM ƠNLý thuyết, kiến thức trên sách vở chƣa đủ để sinh viên khi tốt nghiệp ratrƣờng có thể đi làm trong các công ty, nhà máy hay các trang trại, mà nhữngkiến thức đó cần đƣợc vận dụng vào chính thực tiễn trong đời sống,sản xuấtcủa xã phát từ lý do đó mà Ban giám hiê ̣u nhà trƣờng, cùng các thầycô trong khoa CNTY đã tạo điều kiện cho sinh viên khoa CNTY nói chung vàbản thân em nói riêng đƣợc tham gia học tập và rèn luyện kĩ năng tay nghề tạicơ sở thực 6 tháng đƣợc học hỏi và tham gia vào công việc sản xuất tại cơ sởthực tập, em đã hoàn thành xong bài khóa luận tốt nghiệp, kết quả em đạtđƣợc là nhờ sự giúp đỡ, hƣớng dẫn tận tình của thầy cô. Em cảm ơn chânthành quý thầy cô BGH nhà trƣờng, thầy cô trong khoa CNTY và đặc biệt làthầy giáo n Nhâ ̣t Thắ ng đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ em hoànthành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này. Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới côngty TNHH Bảo Lô ̣c cùng toàn thể anh em công nhân , kỹ thuật trong trại đã tạomọi điều kiện thuận lợi cho em thực hiện đề tài tốt nghiệp và học hỏi nângcao tay xin kính chúc quý thầy cô có thật nhiều sức khỏe, đạt đƣợc nhiềuthành tích cao trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, emkính mong qúy thầy cô xem xét, góp ý và bổ sung, để bài khóa luận của emđƣợc hoàn thiện xin chân thành cảm ơn !Thái Nguyên, ngày thángSinh viênNguyễn Văn Vi ̣năm 2017iiDANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒTrangBảng Cơ cấ u đàn lơ ̣n nái của tra ̣i lơ ̣n Công ty TNHH Bảo Lô ̣c2015 –5/2017 .............................................................................................. 5Bảng Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh của trại cho lợn nái ........................ 20Bảng Tình hình chăn nuôi lợn tại trại của Công ty TNHH Bảo Lộc xãTiên Phƣơng, huyê ̣n Chƣơng My,̃ Hà Nội qua 3 năm .................... 30Bảng Khẩu phần ăn của lợn mẹ trƣớc và sau khi đẻ ................................ 32Bảng Lịch phun sát trùng toàn trại ........................................................... 38Bảng quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến21 ngàytuổi .................................................................................................. 39Bảng Một số triệu chứng lâm sàng của bệnh ........................................... 43Bảng Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi ............. 44iiiDANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮTCsCộng sựHBHemoglobinTNHHTrách nhiệm hữu trọngTĐCTrao đổi chấtivMỤC LỤCTrangLỜI CẢM ƠN .................................................................................................... iDANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ ............................................................. iiDANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT ................................................ iiiMỤC LỤC ........................................................................................................ ivPhần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ Đặt vấn đề................................................................................................... Mục đích và yêu cầu của chuyên đề .......................................................... Mục đích.................................................................................................. Yêu cầu .................................................................................................... 2Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ......................................................... Điều kiện cơ sơ nơi thực tập ...................................................................... Quá trình thành lập và phát triển của công ty TNHH Bảo Lộc .............. Cơ sở vâ ̣t chấ t của trang tra ̣i.................................................................... Cơ cấu tổ chức của cơ sở thực tập .......................................................... Đối tƣợng vật nuôi và các kết quả sản xuấ t của cơ sở ............................... Đối tƣợng vật nuôi của tra ̣i ..................................................................... Kế t quả sản xuấ t của cơ sở ...................................................................... Cơ sở khoa ho ̣c của đề tài .......................................................................... Mô ̣t số hiể u biế t về lơ ̣n con ..................................................................... Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ ........................................................ Kỹ thuật nuôi dƣỡng lợn con theo mẹ................................................... Cai sữa cho lợn con ............................................................................... Các yếu tố ảnh hƣởng đến sinh trƣởng của lợn con.............................. Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ ............................. Một số bệnh thƣờng gặp ở lợn con ....................................................... Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc .............................................. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc.......................................................... Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc ......................................................... 27vPhần 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ... Đối tƣợng ................................................................................................. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... Nội dung thực hiện ................................................................................... chỉ tiêu và phƣơng pháp thực hiện ..................................................... chỉ tiêu theo dõi ............................................................................... Phƣơng pháp theo dõi ........................................................................... Các chỉ tiêu theo dõi và phƣơng pháp xác định chỉ tiêu ....................... Phƣơng pháp xử lý số liệu..................................................................... 29Phần 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ....................................... Tình hình chăn nuôi lợn tại trại chăn nuôi Công ty TNHH DT &KD BảoLô ̣c xã Tiên Phƣơng, huyê ̣n Chƣơng My,̃ Hà Nội. ......................................... Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dƣỡng lợn con sơ sinh đến 21 ngàytuổi tại trại ....................................................................................................... Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dƣỡng lợn con sơ sinh đến 21 ngàytuổi ................................................................................................................... Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi....... Biện pháp vệ sinh phòng bệnh .............................................................. quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi..... Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngàytuổi ................................................................................................................... Công tác chẩn đoán bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi ...... Kết quả về chẩn đoán bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi ... Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi ................... 44Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. Kết luận .................................................................................................... Đề nghị ..................................................................................................... 47TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 49PHỤ LỤC1Phần 1MỞ vấn đềChăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ởcác nƣớc trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, vì đó là nguồn cungcấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lƣợng cho con ngƣời, cung cấp phânbón cho ngành trồng trọt, các sản phẩm nhƣ da mỡ,... cho ngành công nghiệpchế biến, ngoài ra chăn nuôi còn góp phần giữ vững cân bằng sinh thái giữacây trồng, vật nuôi và con trƣớc tình hình chăn nuôi lợn hiện nay ngày càng đƣợc côngnghiệp hóa, chăn nuôi theo quy mô công nghiệp, quá trình chăm sóc lợn cũngngày càng chuyên môn hóa theo dây chuyền, vấn đề về các loại dịch bệnh củalợn cũng diễn biến ngày càng phức tạp. Vì vậy vấn đề vệ sinh và chăm sóclợn cũng đƣợc chú trọng hơn, để giảm tối đa nguy cơ mắc bệnh của lợn, ngoàiviệc thực hiện tốt vấn đề vệ sinh, thì bên cạnh đó chăm sóc, nuôi dƣỡng vàphòng trị bệnh cũng rất quan phát từ tình hình thực tế trên, đƣợc sự đồng ý của Ban chủ nhiê ̣mkhoa, thầ y giáo hƣớng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiệnchuyênđề “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh ởlợn con , giai đoaṇ từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang traị cuả công tyTNHH Bảo Lộc, Xã Tiên Phương, huyê ̣n Chương Mỹ, Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu của chuyên Mục đích- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại Công ty TNHH Bảo Lô ̣c , xã TiênPhƣơng, Chƣơng My,̃ Hà Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dƣỡng cho đàn lợn con nuôi tại Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôitại Yêu cầu- Đánh giá đƣợc tình hình chăn nuôi tại Công ty TNHH Bảo Lô ̣c, xãTiên Phƣơng, Chƣơng My,̃ Hà Áp dụng đƣợc các quy trình chăm sóc, nuôi dƣỡng cho đàn lợn connuôi tại trại đạt hiệu quả định đƣợc tình hình nhiễm bệnh, biết cách phòng trị bệnh cho lợncon nuôi tại 2TỔNG QUAN NGHIÊN Điều kiện cơ sơ nơi thực Quá trình thành lập và phát triển của công ty TNHH Bảo LộcTrại chăn nuôi công ty trách nhiệm hữu hạn TNHH Bảo Lộc đóngtrên địa bàn xã Tiên Phƣơng Chƣơng Mỹ , Hà Nội. Trại đƣợc thành lập năm2006, là trại lợn tƣ nhân do cô Nguyễn Thị Bảy làm chủ đầu tƣ kiêm giámđố c công Cơ sở vật chấ t của trang traịTrại chăn nuôi của công ty đƣợc dặt trên một khu vực cao, rễ thoátnƣớc, đƣơ ̣c tách biê ̣t với khu dân cƣ , xung quanh tra ̣i có hàng rào bảo vê ̣ ,cổ ng chiń h và cổ ng va tâm huyết đối với nghề chăn nuôi. Đặc biệttrại chăn nuôi đã tuyển dụng và đào tạo đƣợc một đội ngũ cán bộ kỹ thuật cóchuyên môn, kinh nghiệm, thực tiễn và yêu nghề.+ Cơ cấu tô chức của trại gồm 41 cán bộ và nhân viênTrong đó- 06 Lao đô ̣ng gián tiế p01 Giám đốc công ty02 Kế toán01 Bảo vệ02 Làm vƣờn, nấu ăn5- 35 Lao động trực tiếp02 kỹ sƣ chăn nuôi09 công nhân và 7 sinh viên thƣ̣c tâ ̣p17 phạm nhânVới đô ̣i ngũ công nhân trên , trại phân ra làm các tổ khác nhau nhƣ tổchuồ ng đẻ , tỏ chuồng bầu , tổ chuồ ng cai sƣ̃a và lơ ̣n thiṭ . Mỗi tổ thƣ̣c hiê ̣ncông viê ̣c hàng ngày mô ̣t cách nghiêm túc, đúng quy đinḥ của tra Đối tƣợng vâ ̣t nuôi và các kế t quả sản xuấ t của cơ Đối tượng vật nuôi của trạiTrại lợn của công ty nuôi giống lợn chính là Kế t quả sản xuấ t của cơ sởHiê ̣n nay trung biǹ h lơ ̣n nái của trại sản xuấ t đƣơ ̣c 2,5 lứa/năm. Số consơ sinh là 11,2 con/ đàn, số con cai sƣ̃a 9,9con/ Tại trại, lơ ̣n co, theo me ̣ đƣơ ̣c nuôi đế n 21 ngày tuổi, châ ̣m nhấ t là 25ngày thì tiến hành cai sữa và lợn con đƣơ ̣c chuyể n sang chuồ ng cai Lơ ̣n thƣơng phẩ m ta ̣i tra ̣i đƣơ ̣c nuôi tƣ̀ lúc sơ sinh đế n lúc xuấ t bánkhoảng 5 đến 6 tháng với khối lƣơ ̣ng trung biǹ h tƣ̀ 90 đến Cơ cấ u đàn lợn của trại từ năm 2015 đến tháng 5 năm 2017 nhƣ sauBảng Cơ cấ u đàn lơ ̣n nái của tra ̣i lơ ̣n Công ty TNHHBảo Lô ̣c2015 – 5/2017Số lƣợng lợn nái của các năm conLoại lợn náiNăm 2015Năm 2016Năm 2017Lơn nái sinh sản739856804Lơ ̣n nái hâ ̣u bi ̣988991Tông số837945895Nguồ n công ty TNHH Bảo Lộc giai đoạn 2015 – 20176Bảng cho thấ y số lƣơ ̣ng lơ ̣n nái sinh sản củatrại không có biếnđô ̣ng lớn qua các năm . Số lƣợng nái năm 2016 tăng lên nhƣng do biế n đô ̣nggiá cả thị trƣờng năm 2017 số lƣơ ̣ng nái trong tra ̣i có xu hƣớng giảm Cơ sở khoa ho ̣c của đề Một số hiểu biế t về lợn con* Các thời kỳ quan trọng của lợn con+ Thời kỳ tƣ̀ sơ sinh đế n 1 tuầ n tuổ i là thời kỳ khủng hoảng đầu tiêncủa lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trƣờng sống, bởi vì lơ ̣n conchuyể n tƣ̀ điề u kiê ̣n số ng ổ n đinḥ trong cơ thể lơ ̣n me ̣ , chuyể n sang điê ̣u kiê ̣ntiế p xúc trƣ̣c tiế p với môi trƣờng bên ngoài . Do vâ ̣y , nế u nuôi dƣỡng chămsóc không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống ̣t khác lúc này lơ ̣n con mới đẻ còn yế u ớt ,chƣa nhanh nhe ̣n. Lơ ̣n me ̣vƣ̀a đẻ xong , cơ thể còn mê ̣t mỏi , đi đƣ́ng còn nă ̣ng nề vì sƣ́c khỏe chƣa hồiphục, nên dễ đè chế t lơ ̣n con . Cầ n nuôi dƣỡng chăm sóc chu đáo lơ ̣n con ởgiai đoa ̣n này.+ Thời kỳ 3 tuầ n tuổ i là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con , doquy luâ ̣t tiế t sƣ̃a của lơ ̣n me ̣ gây lên . Sản lƣợng sữa c ủa lợn nái tăng dần từsau đẻ và đa ̣t cao nhấ t ở giai đoa ̣n 3 tuầ n tuổ i , sau đó sản lƣơ ̣ng sƣ̃a của lơ ̣nmẹ giảm nhanh, trong khi đó nhu cầ u dinh dƣỡng của lơ ̣n con ngày càng tăngdo lơn con snh trƣơng và phát du ̣c nhanh , đây là mâu thuẫn giƣ̃a cung và cầ u .Để giải quyế t mâu thuẫn này cầ n tâ ̣p cho lơ ̣n ăn sớm vào khoang7 – 10 ngày tuổi.+ Thời kỳ ngay sau khi cai sƣ̃a là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môitrƣờng số ng thay đổ i hoàn toàn , do yế u tố cai sƣ̃a g ây nên. Mă ̣t khác thƣ́c ănthay đổ i , chuyể n tƣ̀ thƣ́c ăn chủ yế u là sƣ̃a me ̣ sang thƣ́c ăn hoàn toàn dongƣời cung cấ p . Nên giai đoa ̣n này , nế u nuôi dƣỡ ng, chăm sóc không chuđáo, lợn con rấ t dễ bi ̣còi co ̣c, mắ c bê ̣nh đƣờng hô hấ p, tiêu chăn nuôi lơ ̣n nái ngoa ̣i , cai sƣ̃a bắ t đầ u lúc 21 ngày kết thúc lúc25 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta đãlàm giảm đƣợc 1 thời ky khủng hoảng của lơ ̣n Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo me ̣Chăm sóc là khâu quan tro ̣ng nhấ t trong nuôi dƣỡng lơ ̣n con thời kỳ ởthời kỳ bù sƣ̃a vì đây là thời kỳ lơ ̣n con chiụ ảnh hƣởng rấ t lớn của điề u kiê ̣nngoại cảnh. Nế u điề n kiê ̣n ngoa ̣i cảnh bấ t lơ ̣i sẽ rấ t rễ gây ra tỉ lê ̣ hao hu ̣t lớn ởlơ ̣n con.+ Chuồ ng nuôi chuồ ng nuôi phải đƣơ ̣c vê ̣ sinh trƣớc khi lơ ̣ me ̣ đẻ. Nề nchuồ ng phải luôn sa ̣ch sẽ và kho ráo , ấm về mùa đông , mát về mùa hè , đảmbảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp ch o lơ ̣n con . Ngoài ra chuồn nuôi phải cómáng tập ăn và máng uống cho lợn con n cƣ́ng hoă ̣c sàn thƣa không có đô ̣n khu vƣ̣c cho lơ ̣n con mới sinhcầ n giƣ̃ ấ m ở 32 – 35oC trong mấ y ngày đầ u , sau đó giƣ̃ 21 – 27oC cho đế nlúc cai sƣ̃a 3 – 6 tuầ n tuổ i . nhiê ̣t đô ,̣ đô ̣ ẩ m và tố c đô gió làm thành mô ̣t hê ̣thố ng tác nhân stress đố i với gia súc..+ Cắ t đuôi, bấ m răng nanh, thiế nThƣờng thì trong chăn nuôi công nghiê ̣p cầ n phải tiế n hành cắ t đuôicho lơ ̣n nuôi t hịt. Vì lợn nuôi thịt thƣờng đƣợc nuôi thành các đàn lớn và cómâ ̣t đô ̣ cao cho nên lơ ̣n thƣờng tấ n công nhau gây mấ t ổ n đinḥ, giảm năngsuấ t chăn nuôi. Vị trí tấn công thƣờng là ̣c cắ t đuôi thƣờng tiế n hành ngay sau đẻ hoă ̣c trong tuầ n đầ u sau đẻ .Dùng kìm điện cắt sát khấu đuôi sao cho để lại 2,5 – 3 cm. Cắt xong dùng coniot 70o để sát ra lợn con mới đẻ đã có răng nanh, nên việc bấm răng nanh cũngtiến hành ngay sau đẻ để tránh tình trạng gây đau cho lợn mẹ khi bú, giảm tỷlệ gây viêm vú cho lợn mẹ. Khi cắt răng nanh, ngƣời cắt tránh không phạm8vào nƣớu hoặc lƣỡi lợn con, ngoài ra ngƣời cắt cũng nên cẩn thận không đểnanh gẫy bắn vào mắt thời kỳ này cũng phải thực hiện thiến cho những lợn đực khôngdùng làm giống. Có thể thiến trong khoảng từ 8 – 10 ngày tuổi. Cần sát trùngbằng cồn iot trƣớc và sau Phạm Sỹ Lăng và cs 1997[7], bệnh phó thƣơng hàn là bệnhtruyền nhiễm chủ yếu xảy ra ở lợn con 2 – 4 tháng tuổi. Đặc trƣng của bệnh làdo vi khuẩn tác động vào bộ máy tiếu hóa gây nên triệu chứng nôn mửa, ỉachảy, phân khắm, vết loét lan tràn ở ruột già.+ Tiêm phòng-Viêm phổi Mycoplasma giai đoạn 7 – 10 ngày giai đoạn 14 – 17 ngày 2ml/con phòng bệnh phó thƣơng hàn giai đoạn 20 – 21ngày lý lợn con đối với những lợn con có dự định chọn làm gióng thìphải có kế hoạch quản lý tốt. Những con này sẽ đƣợc cân và đánh số ở cácgiai đoạn sơ sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi. Đây chính là cơ sởgiúp cho việc lựa chọn để làm giống sau đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổiBình thƣờng khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trƣớc và lợn con đẻ liềnkề 15 – 20 phút, có có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn. Lợn con đẻ ra phảiđƣợc lau khô bằng vải mềm sạch theo trình tự miệng – mũi – đầu – mình –rốn – bốn chân, cho vào ổ úm sau khi nhiệt độ môi trƣờng nhỏ hơn 35 oC. Lợnnái đẻ xong con cuối cùng tiến hành bấm nanh, cắt rốn, cố định đầu vú cholợn con mục đích là tạo điều kiện để đàn lợn con phát triển đồng đều.* Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi9Trong thời gian này nói chung ổ lợn con đã bú thành thạo và rõ ràng đãbƣớc vào giai đoạn khởi động tốt trong thời gian này việc chăm sóc quản lýrất quan trọng bao gồm cả phòng chống thiếu máu khống chế tiêu chảy, thiếnlợn và cắt đuôi. Trong giai đoạn này sữa lợn mẹ đủ đáp ứng nhu cầu của lợncon trong mọi vấn đề, trừ sắt. Sắt cần thiết cho việc hình thành hemoglobintrong máu nó vận chuyển oxygen đến các bộ phận cơ thể. Thiếu sắt sẽ gâythiếu máu nhƣng có thể phòng ngừa bằng cách tiêm Đào Trọng Đạt và cs 1996 [1], một trong các yếu tố làm cho lợncon dễ mắc bệnh đƣờng tiêu hóa là do thiếu sắt. Nhiều thực nghiệm đã chứngminh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 – 50mg sắt nhƣng lợn con chỉ nhậnđƣợc lƣợng sắt qua sữa mẹ là 1mg. Vì vậy phải bổ sung một lƣợng sắt tốithiểu 200 – 250mg/con/ngày. Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thểsuy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mặc hội chứng tiêu cầu sắt cho lợn con mỗi ngày cần 7 – 16 mg hoặc 21mg/kg tăngkhối lƣợng duy trì hemoglobin hồng cầu trong máu, sắt dự trữ cho cơ thểtồn tại và phát triển. Lƣợng sắt trong sữa mẹ không đủ cho nhu cầu sắt củalợn con, triệu chứng điển hình của thiếu sắt ở lợn con là thiếu máu, hàm lƣợnghemoglobin giảm, da lợn con màu trắng xanh, đôi khi tiêu chảy, phân trắng,chậm lớn, có khi chết.* Từ 3 tuần tuổi đến cai sữaThời gian này lợn con đã lớn nhanh hơn, nó trở thành dẻo dai và có khảnăng đƣơng đầu tốt hơn với môi trƣờng ngoại cảnh của nó. Vào thời gian này,phần lớn lợn con theo mẹ đã đƣợc 3 – 4 tuần tuổi, chúng bắt đầu ăn thức ănvà lớn nhanh, sự tăng khối lƣợng này là tăng khối lƣợng có hiệu quả, do đó tacần cố gắng giảm thấp yếu tố stress cho lợn các để đạt năng suất tối đa là lợn con bắt đầu ăn càng sớm càngtốt. Nói chung sự tiết sữa của lợn mẹ đạt đến đỉnh cao lúc 3 – 4 tuần tuổi và10bắt đầu giảm, lợn con bắt đầu sinh trƣởng nhanh ở tuổi này và cần nhận đƣợcthức ăn bổ sung nếu nó sinh trƣởng với tiềm năng di truyền của nó, trong giaiđoạn này nôi ký sinh trùng là vấn đề ở phần lớn các trại lợn và sự phá hoại doký sinh trùng gây ra có thể bắt đầu từ rất bé. Yếu tố chăm sóc, quản lý chủyếu cuối cùng của việc nuôi lợn con theo mẹ là cai sữa, tuổi cai sữa lợn có thểthay đổi tùy theo đàn, tùy theo chuồng trại có sẵn. Nói chung lợn con có thểcai sữa bất cứ khi nào những lợn con càng bé càng đòi hỏi sự quản lý nhiềuhơn. Để thực hiện cai sữa đƣợc đảm bảo và đạt hiểu quả cao ta cần chú ýnhững điểm sau để giảm stress khi cai sữa lợn con+ Chỉ cai sữa cho nhƣng lợn cân nặng trên 5,5kg.+ Cai sữa trƣớc cho những ổ đông con.+ Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể.+ Hạn chế số lƣợng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu đƣợc.+ Hạn chế mức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy saucai sữa.+ Cứ 4 – 5 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 – 25 lợn con thì lắp đặt 2vòi nƣớc uống.+ Trộn thuốc vào cám hoặc cho vào nƣớc uống nếu tiêu Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ* Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn conLợn con đẻ ra cần đƣợc bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Thời gian tiếtsữa đầu của lợn nái là 1 tuần kể từ khi đẻ nhƣng có ý nghĩa lớn nhất đối vớilợn con là trong 24 giờ đầu. Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cảđàn con bú cùng lúc. Nếu lợn mẹ chƣa đẻ xong thì nên cho những con đẻtrƣớc bú Trần Văn Phùng và cs2004 [8], lợn con mới đẻ lƣợng kháng thểtăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ, cho lên khả năng miễn dịch11của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lƣợng kháng thể hấp thuđƣợc nhiều hay ít từ lợn Vũ Đình Tôn và cs 2006[13], lợn con khi mới sinh ra trong máuhồng nhƣ không có kháng thể. Song lƣợng kháng thể trong máu lợn con đƣợctăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa Trần Thị Dân 2008 [9], lợn con mới đẻ trong máu không cóglobumin nhƣng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹsang qua sữa đầu. Lƣợng globumin sẽ giảm sau 3 – 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5– 6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thƣờng 65mg/100ml máu. Các yếu tố miễndịch nhƣ bổ thể, lyzozyme, bạch cầu... đƣợc tổng hợp còn ít, khả năng miễndịch đặc hiệu của lợn con kém. Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết đểtăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là hội chứng tiêu đầu có hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng rất cao. Hàm lƣợng proteintrong sữa đầu gấp 2 lần so với bình thƣờng, vitamin A gấp 5 – 6 lần, vitaminC gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần. Đặc biệt trong sữa đầu có hàmlƣợng yglobumin mà sữa thƣờng không có, yglobumin có tác dụng giúp cholợn con có sức đề kháng đối với bệnh tật. Ngoài ra Mg ++ trong sữa đầu có tácdụng tẩy các chất cặn bã phân xu trong quá trình tiêu hóa phát triển thai đểhấp thu chất dinh dƣỡng mới. Nếu không nhận đƣợc Mg ++thì lợn con sẽ bị rốiloạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, tỷ lệ chết cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng búsữa đầu, theo quy luật tiết sữa của lợn nái thì lƣợng sữa tiết rphaanfcacs vúphần ngực nhiều hơn vú ở phần bụng , mà lợn con trong ổ thƣờng con to, connhỏ không đều nhau. Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thƣờng canhtranh bú ở những vú trƣớc ngực có nhiều sữa hơn và dẫn tới tỷ lệ đồng đềucủa đàn lợn con rất thấp, có trƣờng hợp có những con lợn yếu không tranhđƣợc bú sẽ bị đói làm tỷ lệ chết của lợn con cao. Khi cố định đầu bú, nên ƣu12tiên những con lợn nhỏ yếu dƣợc bú phía trƣớc ngực. Công việc này đòi hỏiphải kiên trì, tỷ mỉ bắt từng con cho bú nhiều lần trong một ngày 7 – 8 lần,làm lien tục trong 3 – 4 ngày để chúng quen hẳn với vị trí mới thôi. Cũng cótrƣờng hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú thì những vú phía sau có thể cho mỗion làm quen 2 vú, để vừa tăng cƣợng lƣợng sữa cho lợn con, vừa tránh bị teovú hoặc cƣơng vú cho lợn cố định đầu vú tốt thì sau 3 – 4 ngày lợn con sẽ quen tự bƣở các vúquy định cho nó, lợn con quen nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào thế nằmcủa lợn mẹ, nếu lợn mẹ thƣờng xuyên nằm quay về một phía khi cho con búthì lợn con nhận biết vú quy định của nó sớm hơn. Ngƣợc lại, nếu lợn mẹ nằmthay đổi vị trí luôn thì con sẽ chậm nhân biết ghép lợn con với lợn mẹ khác mẹ thì phun erezyl cho cả đàn concũ và mới để không bị lợn mẹ cắn, những con mới ghép cũng phải cố định vú bú.* Bổ sung sắt cho lợn conTrong những ngày đầu, khi lợn con chƣa ăn đƣợc, lƣợng sắt mà lợn contiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cầnđƣợc bổ sung thêm cầu sắt cần cung cấp cho lợn con 30 ngày đầu sau đẻ là 30 x7mg/ngày = 210mg. Trong đó, lƣợng sắt cung cấp từ sữa chỉ đạt 1 – 2 mg/ngày36 – 60 mg/30 ngày, lƣợng sắt thiếu hụt cho một lợn con khoảng 150 –180 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lƣợng sắt thiếu hụt. Trongthực tế thƣờng cung cấp thêm tiêm sắt cho lợn con trong 3 – 4 ngày sau khi sinh. Việc tiêm sắtthƣờng làm với các thao tác khác để tiết kiệm công lao động. Nếu cai sữa lúc3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100mg là đủ. Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm200mg sắt tiêm 2 lần. Lần 1 3 ngày tuổi, lần 2 10 -12 ngày chứng điển hình của sự thiếu sắt là thiếu máu, hàm lƣợnghemoglobin giảm. Khi thiếu sắt, da của lợn con có màu trắng xanh, đôi khilợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn, có khi bị loại trừ hiện tƣợng thiếu sắt cần bổ sung kịp thời cho lợn con bằngcách tiêm, cho uống hoặc cho sắt vào cơ thể lơ ̣n con bằng cách tiêm là đạt hiệu quả nhất. Nêndùng sắt dƣới dạng dextran, hợp chất này có tên là Ferri – dextran. Ferri –dextran là hợp chất có phân tử lớn nên ngấm từ từ, hiệu quả kéo dài. Cáchthức sử dụng- Cách 1 chỉ tiêm 1 lần vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, với liều lƣợng 200mg sắt Fe – Dextran cho lợn Cách 2 tiêm lần 2 lần thứ nhất 100 mg vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, lầnthứ 2 tiêm nhắc lại là 7 ngày sau khi tiêm lần thứ nhất. Cũng với liều lƣợng100mg/ ngăn ngừa hiện tƣợng ngộ độc sắt cho lợn con, cần bổ sung thêmvitamin E vào khẩu phần ăn của lợn mẹ 1 ngày trƣớc khi tiêm khoảng500mg. Nếu thiếu vitamin E thì cần cung cấp 20 – 30 mg Fe vào ngày thứ 3sau khi sinh cũng đã gây ngộ độc cho cơ thể lợn Các tiêm sắt cho lợn conDùng 1 bơm tiêm sạch lấy dung dịch sắt khỏi lọ chứa , sử dụng kimtiêm 14 hoặc 16 đƣờng kính lớn để láy thuốc. Sau khi lấy thuốc đầy bơmdùng kim 8, dài 1 cm để tiêm. Sắt tiêm quá liều có thể gây hại, thậm chí cóthể gây độc. Kiểm tra liều dùng ghi ở trên nhãn sản phẩm, không cần thayhaysats trùng kim cho từng con lợn, song điểm tiêm nếu bẩn nên lau bằngnƣớc sát trùng. Rửa và sát trùng dụng cụ sau khi tiêm cho nhóm lợn con. Việcsử dụng kim tiêm và tiêm 1 lần tạo điều kiện vệ sinh tiêm vào cổ, không lên tiêm mông vì có thể làm hại đến dây thầnkinh và cũng có thể vết sắt dƣ thừ lƣu ở chân lợn thịt mổ bán. Tiêm sắt vào cơbắp hay tiêm vào dƣới da. Cẩn thận không tiêm vào phần sƣơng sống. Giữmũi tiêm một lúc để tránh hoặc giảm lƣợng thuốc chảy ngƣợc ra. Điểmkhuyến cáo để tiêm dƣới da là chỗ da kéo lên đƣợc ở phía trƣớc chân trƣớc* Tập cho lợn con ăn sớm- Mục đích+ Bù đắp phần dinh dƣỡng thiếu hụt cho nhu cầu sinh trƣởng phát triểncủa lợn con khi sản lƣợng sữa mẹ giảm sau 3 tuần tiết sữa+ Bèn luyện bộ máy tiêu hóa của lợn con sớm hoàn thiện về chứcnăng, đồng thời kích thích bộ máy tiêu hóa phát triển nhanh hơn về kíchthƣớc và khối lƣợng.+ Giảm bớt sự nhấm nháp thức ăn rơi vãi của lợn con để hạn chết đƣợccác bệnh đƣờng ruột của lợn con.+ Giảm bớt sự khai thác sữa mẹ kiệt quệ và giảm tỷ lệ hao mòn của lợnmẹ, từ đó lợn mẹ sớm động dục trở lại sau khi cai sữa lợn con.+ Tránh sự cắn xé bầu vú lợn mẹ, hạn chế bệnh viêm vú.+ Có điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con, tăng hệ số quay vòng lứađẻ/nái/năm.+ Phƣơng pháp tập ăn sớm+ Khi lợn con đạt 7 – 10 ngày tuổi, ta nên tiến hành cho lợn con làmquen với thức ăn. Các chất phụ gia, cũng nhƣ phƣơng pháp chế biến sao chokích thích sự thu nhận thức ăn của lợn con. Lợn con thƣờng rất thích ăn thứcăn dạng viên hay bột nhỏ khô, những thức ăn này thƣờng là các loại tấm, bắp,đậu nành đƣợc rang xay để tạo mùi thơm. Phải cho lợn con làm quen vớinguồn glucid, lipid, protid của các loại thực liệu thông thƣờng để hệ tiêu hóacủa lợn con sớm bài tiết các enzyme tiêu hóa thích sữa cho lợn con* Điều kiện cai sữa cho lợn con- Phải chủ động thức ăn, thức ăn cần phải có phẩm chất tốt, giá trị dinhdƣỡng cao, cân đối- Sức khỏe của lợn con và lợn mẹ phải tốt- Lợn con phải ăn tốt và tiêu hóa tốt các loại thức ăn- Cần phải có trang thiết bị đầy đủ, đúng kỹ Ngƣời chăn nuôi phải có tay nghề, tinh thần trách nhiệm cao.* Các hình thức cai sữa- Cai sữa thông thƣờng cai sữa từ 42 – 60 ngày tuổi.+ Ƣu điểm lợn con biết ăn tốt, thức ăn yêu cầu không cao lắm, lợn conkhỏe mạnh hơn, khả năng điều tiết thân nhiệt tốt hơn nên chăm sóc nhẹ nhàng+ Nhƣợc điểm khả năng sinh sản thấp, chi phí cho 1kg khối lƣợng lợncon cao, tỷ lệ hao mòn lợn mẹ lớn Cai sữa sớm cai sữa từ 21 đến 28 ngày tuổi.+ Ƣu điểm nâng cao sức sinh sản của lợn nái nâng cao số lứa đẻ lứa so với lứa, tránh đƣợc một số bệnh truyền nhiễm từ mẹ sangcon , giảm chi phí thức ăn/1kg tăng khối lƣợng lợn con20% so với cai sữathông thƣờng, giảm tỷ lệ hao mòn lợn mẹ.+ Nhƣợc điểm đòi hỏi thức ăn phải có chất lƣợng tốt, ngƣời chăm sócnuôi dƣỡng phải nhiệt tình với công việc và có nhiều kinh nghiệm.* Kỹ thuật cai sữaCần tiến hành từ từ+ Ngày đầu tách mẹ từ 7 giờ sáng, buổi trƣa cho về với lợn con, 13 giờtách lợn mẹ đến 17 giờ lại cho lợn mẹ về với lợn con.+ Ngày thứ 2 buổi sáng tách lợn mẹ đi, buổi chiều 17 giờ cho lợn mẹvề với lợn Ngày thứ 3 buổi sáng tách hẳn lợn mẹ với lợn con, không gây ảnhhƣởng tới lợn Trƣớc cai sữa 2 – 3 ngày cần giảm số lần bú của lợn Giảm thức ăn cho lợn mẹ trƣớc khi cai sữa 1 – 2 Chế độ ăn đối với lợn con+ Tỷ lệ sơ trong khẩu phần thấp khả năng tiêu hóa chất xơ ở lợn concòn kém, tỷ lệ xơ ở trong khẩu phần ăn cao thì lợn con sinh trƣởng phát triểnchậm, tiêu tốn thức ăn cao, lợn con dễ táo bón, viêm ruột và có thể dẫn đếncòi cọc, tỷ lệ thích hợp là 5 – 6%. xu hƣớng trong những năm gần đây ở cácnƣớc chăn nuôi tiên tiến ngƣời ta khuyến khích nâng cao tỷ lệ xơ trong khẩuphẩn ăn của lợn để nâng cao sức khỏe.+ Có tỷ lệ ăn thích hợp lợn con ở giai đoạn này cần có dinh dƣỡng tốtcho phát triển bộ xƣơng và cơ bắp là chủ yếu. Nếu chúng ta cung cấp khẩuphần ăn có hàm lƣợng tinh bột cao, lợn con sẽ béo sớm và khả năng tăngtrọng sẽ giảm, tích lũy nhiều mỡ sớm. Tỷ lệ thức ăn tinh thích hợp cho lợncon trong giai đoạn này là 80% trong khẩu phần.+ Có tỷ lệ nƣớc thích hợp Nếu khẩu phần lợn con có tỷ lệ nƣớc cao sẽdẫn đến tiêu hóa kém, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dƣỡng nhất làprotein, thức ăn nhiều nƣớc cũng gây nền chuồng bẩn, ẩm thấp và lợn con dễnhiễm tỷ lệ nƣớc thấp sẽ gây nên thiếu nƣớc cho nhu cầu sinh trƣởng vàphát triển của lợn con. Tỷ lệ thức ăn tinh, thô phải thích hợp, cứ 1kg thức ăntinh trộn với 0,5l nƣớc sạch, tối đa có thể là tỷ lệ 1 1, ngoài ra ngƣời chănnuôi phai liên quan mật thiết với độ ẩm không khí, ẩmđộ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%.* Ánh sáng Ánh sáng có ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và phát triển củalợn. Khi nghiên cứu về ảnh hƣởng của ánh sáng đối với lợn ngƣời ta thấy rằngánh sáng có ảnh hƣởng rõ rệt đến sinh trƣởng và phát triển của lợn con, lợnhậu bị và lợn sinh sản hơn là lợn vỗ béo. Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnhhƣởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt là quá trình trao đổikhoáng. Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không đủ ánh sángthì tốc độ tăng khối lƣợng sẽ giảm từ 9,5 – 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 – 9%so với lợn con đƣợc vận động dƣới ánh sáng mặt trời.
1. Giai đoạn lợn con mới sinh ra – Lợn rừng con khi đẻ ra cho uống men tiêu hóa Lactomin 1 gói/1 đàn. Ngày hôm sau cho uống kháng thể KTE làm theo hướng dẫn của nhà sản xuất. – Cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt sữa của lợn nái 3 ngày đầu sau đẻ. – Cố định vú bú, giữ cho những con yếu, nhỏ trong đàn được bú 2 cặp vú đầu liên tục trong 2-3 ngày đầu để giúp đàn lợn con phát triển đồng đều. – Tiêm sắt cho lợn con lần 1 tiêm 3 ngày sau đẻ, liều 1ml 100mg. Lần thứ 2 tiêm vào ngày thứ 10 sau đẻ, liều 2ml 200mg. – Nếu thấy lợn con có hiện tượng đi ỉa ta lấy lá ổi, lá khổ sâm, phèn đen, nhọ nồi giã ra lấy nước bơm trực tiếp vào miệng lợn con. Video hướng dẫn kỹ thuật nuôi lợn rừng 2. Giai đoạn lợn rừng con trước cai sữa – Cho lợn con tập ăn từ lúc 15-20 ngày tuổi bằng cám tập ăn 951. – Trung bình 1 con lợn con cho ăn khoảng 0,1kg/ngày. Cho ăn 5 bữa/ngày. – Lượng thức ăn cho lợn ăn tăng dần hàng ngày. – Cho lợn làm quen dần với thức ăn bằng cách bôi thức ăn vào miệng lợn con. * Cách tập ăn cho lợn con – Hòa thức ăn thành dạng sền sệt rồi bôi lên mép, miệng lợn con, đầu vú lợn mẹ vài lần sẽ làm cho lợn con quen dần với mùi thức ăn và sẽ tìm đến nơi có thức ăn. – Cố định nơi để máng ăn để lợn con quen chỗ ăn. Cho lợn ăn 5 – 6 bữa/ngày, mỗi lần cho ăn nên để máng ăn 2-3h rồi bỏ ra vệ sinh sạch sẽ, 1-2h sau lại cho thức ăn mới vào. Làm như vậy vài lần trong ngày sẽ kích thích tính tò mò của lợn con kèm theo mùi thơm của thức ăn sẽ thu hút lợn con. – Khi lợn con tập ăn được nhiều hơn sẽ ngăn lợn mẹ ra, cho lợn con ăn tăng dần nhưng không được cho ăn no sẽ dẫn đến tiêu chảy, chướng bụng. Cho lợn con ăn xen kẽ các loại rau, cỏ mần trầu, các loại cây thuốc nam. Giai đoạn lợn con 15-20 ngày tuổi nên bắt đầu cho tập ăn 3. Giai đoạn lợn con tách mẹ cai sữa – Thời gian lợn con tách mẹ từ 35 – 45 ngày tuổi tùy vào thể trạng tăng trưởng của lợn con và điều kiện thời tiết. – Cho lợn con tập ăn từ 1-10 ngày đầu kể từ ngày cai sữa 0,2 kg 50 % cám tập ăn 951 + 50 % cám tập ăn 952. Cho ăn 5 bữa trong ngày. – Sau 10 ngày đến giai đoạn lợn hậu bị cho ăn 0,2 kg cám tập ăn 952 + 0,2 kg cám trộn cám mì+cám ngô. Cho ăn 5 bữa trong ngày. – Khẩu phần ăn tăng dần cho đến khi lợn đạt khoảng 15 kg thì chuyển sang chế độ ăn của lợn rừng hậu bị. Chuồng nuôi lợn con phải khô ráo, tránh gió lùa 4. Điều kiện chuồng nuôi – Chuồng nuôi phải khô ráo, ấm áp, được che chắn để tránh gió lùa. – Những ngày đầu lợn con mới tách mẹ nên giữ nhiệt độ chuồng nuôi tương đương nhiệt độ chuồng nuôi trước cai sữa. Nhiệt độ thích hợp cho lợn con sau cai sữa từ 25-27 độ C. Thay đổi nhiệt độ chuồng nuôi đột ngột sẽ rất có hại cho lợn con, đặc biệt vào mùa đông lợn dễ bị viêm phổi. – Quan sát đàn lợn để biết nhiệt độ chuồng nuôi + Lợn đủ ấm con nọ nằm cạnh con kia. + Lợn bị lạnh nằm chồng chất lên nhau, lông dựng, mình mẩy run. + Lợn bị nóng nằm tản mạn mỗi con 1 nơi, tăng nhịp thở. >>> Xem thêm Cách chọn lọc, phân loại lợn rừng Chính sách hỗ trợ khi mua lợn rừng giống – Hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật nuôi lợn rừng. – Hỗ trợ tư vấn thiết kế chuồng trại. – Hỗ trợ giống các cây thuốc nam để chữa bệnh cho lợn rừng. – Hỗ trợ giống giun quế kèm chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi giun quế làm thức ăn cho lợn rừng – Hỗ trợ chi phí vận chuyển. – Hỗ trợ rủi ro, bảo hành con giống. – Hỗ trợ vay 50% vốn. – Hỗ trợ thu mua đầu ra. Phóng sự giới thiệu về mô hình chăn nuôi lợn rừng của NTC trên VTV1 Phối cảnh tổng quan chuồng nuôi lợn rừng Các danh hiệu giải thưởng vinh danh trang trại lợn rừng NTC Giấy chứng nhận quy trình nuôi lợn rừng tại trang trại NTC đạt tiêu chuẩn VietGAP ==> Các hộ chăn nuôi có nhu cầu mua lợn rừng giống hoặc cần tư vấn về kỹ thuật chăn nuôi vui lòng liên hệ tới trang trại lợn rừng NTC theo số Hotline 0961 36 0128 để được tư vấn chi tiết. Cùng danh mục
Để tỉ lệ sống của lợn con cao, phát triển khỏe mạnh, không mắc các bệnh dịch nhất là các bệnh tiêu chảy và thiếu máu, bà con cần chú ý một số điều khi chăm sóc lợn con mới đẻ như sau 1. Cho lợn con bú sữa đầu Sữa đầu xuất hiện trong vòng 24h sau sinh nên bà con cần cho lợn con bú chậm nhất 1 giờ sau khi đẻ hoặc càng sớm càng tốt. Trong sữa có hàm lượng vật chất khô cao, giàu protein, các vitamin, kháng thể γ-globulin và MgSO4… Lợn con nhận kháng thể từ sữa đầu của lợn mẹ sẽ tăng khả năng đề kháng, phát triển tốt hơn. Cho lợn cho bú sữa đầu để nhận được kháng thể của mẹ 2. Cố định đầu vú a. Mục đích Do sản lượng và chất lượng sữa ở mỗi vú là khác nhau, việc cố định đầu vú sẽ giúp tất cả lợn con nhận được lượng sữa cân bằng, giúp nâng cao tỉ lệ đồng đều của đàn lợn. Việc cố định đầu vú cũng sẽ tập cho lợn con có phản xạ khi bú, ít tranh giành nhau, giúp nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ, vì sức bú của lợn con càng lớn và trạng thái thần kinh của lợn mẹ càng ổn định thì sữa tiết càng nhiều. Việc không tranh giành đầu vú của đàn lợn con sẽ giúp lợn mẹ ổn định thần kinh đồng thời giúp bà con theo dõi đàn lợn tốt hơn, tránh trường hợp lợn mẹ đè chết con, giúp tăng tỉ lệ sống của đàn lợn con. b. Phương pháp Lợn mẹ sau khi đẻ xong, bà con tiến hành đánh dấu lợn con theo số vú của lợn mẹ. Vì những vú vùng ngực thường có sản lượng và chất lượng sữa tốt hơn các vú vùng bụng, nên khi cho bú lần đầu sau khi đỡ đẻ, bà con cho những con nhỏ bú những vú phía trước vùng ngực – bên phải, những con to bú ở vú phía sau vùng bụng hoặc những vú phía trước vùng ngực – bên trái. Bà con thực hiện 5 lần trong ngày cho tới khi lợn con nhận biết được vú của mình, không bị nhầm lẫn thì thôi. Trường hợp số lợn con nhiều hơn số vú, cần tập cho bú luân phiên đối với những con bú các vú phía trước, vì những vú này sản lượng sữa nhiều và chất lượng sữa tốt. Những con bú vú sau có thể cho bú tất cả các lần. 3. Nhốt riêng lợn con trong vòng 3 – 4 ngày sau sinh Trong vòng 3 -4 ngày sau sinh, bà con cần nhốt riêng lợn con và cho bú theo cữ, vì lúc này lợn mẹ còn mệt và khá vụng về nên có thể đè chết con. Sau khi lợn bú xong, bà con gom chúng vào ổ úm để tránh bị lạnh và rối loạn tiêu hóa. Việc nhốt riêng lợn con cũng là cách theo dõi tình trạng tiết sữa của lợn mẹ, sau mỗi cữ bú khoảng 1,5 – 2 giờ bà con quan sát bệ sữa để phát hiện khả năng bị dư sữa, lợn nái dư sữa có thể gây đọng sữa và viêm vú. Thường xuyên kiểm tra sức khỏe của lợn con, tái sát trùng rốn, kiểm tra sức bú của lợn con để có những phương pháp can thiệp thích hợp. 4. Tiêm sắt cho lợn con phòng tránh thiếu máu Tiêm sắt cho lợn con phòng trừ thiếu máu Hàm lượng sắt trong máu heo con giảm nhanh sau khi đẻ, trong khi hàm lượng sắt cung cấp từ sữa heo mẹ quá thấp so với nhu cầu sinh trưởng của heo con và chỉ đáp ứng từ 30 – 40%. Do đó, bà con cần tiến hành tiêm sắt khi lợn con được 3 ngày tuổi, tiêm lặp lại lần 2 cách 10 ngày sau là cần thiết tiêm 1 ml/con/lần tiêm trong quy trình nuôi dưỡng heo con theo mẹ để tránh thiếu sắt dẫn đến thiếu máu. Đối với heo ngoại có thể tiêm 1 lần vào lúc 3 ngày tuổi với liều cao 200 mg/con. Tiêm bổ sung sắt cho lợn con cũng có thể gặp một số biến chứng cho lợn con bị thiếu vitamin E và khoáng chất Selenium. Để bổ sung sắt cho lợn con an toàn, bà con nên bổ sung vitamin E và khoáng chất Selenium vào khẩu phần ăn của lợn nái khi mang thai. Khi tiêm sắt nên tiêm thử cho những lợn nhỏ trước, nếu có biểu hiệu sốc thì tạm ngừng tiêm, giải độc bằng tiêm vitamin C. 5. Tập cho lợn con ăn sớm a. Mục đích Ba tuần sau sinh sản lượng sữa của lợn mẹ giảm, bà con cần bổ sung thức ăn sớm để bù lại lượng dinh dưỡng thiếu hụt cho lợn con, đảm bảo cho lợn con sinh trưởng tốt. Đồng thời, việc tập ăn sớm sẽ giúp lợn con hoàn thiện chức năng tiêu hóa, kích thích hệ thống tiêu hóa phát triển nhanh về kích thước và khối lượng. Giảm hao mòn lợn mẹ, lợn con cai sữa sớm hơn sẽ giúp lợn mẹ sớm động dục trở lại, tăng số lứa đẻ/nái/năm. b. Phương pháp tập ăn sớm Tập ăn cho lợn con khi đạt 7 – 10 ngày tuổi. Thức ăn tập ăn cần kích thích lợn con thèm ăn thức ăn dạng viên hoặc bột khô nhỏ, thường là các loại tấm, ngô, đậu tương được rang xay để tạo mùi thơm. Bà con có thể sử dụng chức năng nghiền bột khô của Máy băm nghiền đa năng 3A2,2Kw để nghiền thức ăn cho lợn con. Có thể nhét thức ăn tập ăn cho lợn con vài lần để làm quen. Để sẵn thức ăn tập ăn vào ô úm hay máng ăn bán tự động để lợn con tự do liếm láp thức ăn khi cần. Việc tập ăn sớm sẽ giúp hệ tiêu hóa của lợn con sớm bài tiết các enyme tiêu hóa thích hợp. Cách chăm sóc lợn con mới đẻ – tập ăn sớm cho lợn con 6. Dinh dưỡng cho lợn con bú mẹ Nước Mặc dù sữa mẹ chứa nhiều nước, nhưng bà con vẫn cần cung cấp nước sạch cho lợn con hàng ngày, thỏa mãn yêu cầu của chúng. Giai đoạn này tỉ lệ nước trong cơ thể của lợn chiếm tới 80%, tốc độ sinh trưởng nhanh nên lượng nước cần cũng khá lớn. Protein Cho lợn con ăn thêm các loại bột sữa, bột máu, bột thịt, bột cá loại I và khô đậu nành để bổ sung protein. Đây là giai đoạn lợn sinh trưởng mạnh về hệ cơ và lượng protein được tích lũy khá lớn. Thông thường khẩu phần ăn của lợn con phải đảm bảo 17 – 19% protein thô, Lyzine 5 – 6,5% và Methionine 3 – 3,2%. Năng lượng Sang tuần tuổi thứ 3, bà con cho lợn con ăn thêm một số thức ăn dễ tiêu như ngô, gạo, cám… để bổ sung năng lượng cho lợn con. Ở nước ta Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định mức bổ sung như sau 1986 Ngày tuổi Năng lượng trao đổi bổ sung Kcal 10 – 20 250 20 – 30 500 30 – 45 625 45 – 60 750 Khoáng Bổ sung khoáng chất cho lợn con vì đây là thời kỳ lợn con phát triển nhanh và mạnh về hệ cơ và hệ xương. + Ca, P Cần cung cấp Ca, P cho lợn con để phòng tránh còi xương. Mức cung cấp đối với Ca là 0,8%; P là 0,6% so với vật chất khô khẩu phần. Nguồn bổ sung thường dùng là bột xương hay bột đá. + Fe, Cu đây là 2 yếu tố bị hạn chế trong quá trình tạo sữa nên cần phải cung cấp trong khẩu phần của lợn con. Mức cung cấp đối với Fe là 80 ppm, Cu là 6 – 8 ppm. Vitamin Sữa mẹ cung cấp khá đầy đủ vitamin cho lợn con. Riêng vitamin D, bà con nên để lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời sẽ được bổ sung đầy đủ nguồn vitamin này. 7. Chăm sóc và quản lý lợn con * Chuồng nuôi Vệ sinh chuồng nuôi sạch sẽ trước khi lợn đẻ. Nền chuồng phải luôn sạch sẽ và khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè, đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm cần phải có đèn sưởi để đảm bảo chống lạnh cho lợn con. Cần đảm bảo điều kiện môi trường xung quanh cho lợn con như sau Độ tuổi Nhiệt độ 0C Sơ sinh 34 2 ngày tuổi 30 14 ngày 20 Ẩm độ 60% Ngoài ra chuồng nuôi phải có máng tập ăn và máng uống cho lợn con riêng. Cần cắt đuôi, bấm răng, thiến đối với lợn thịt * Cắt đuôi, bấm răng, thiến Đối với chăn nuôi công nghiệp, bà con cần cắt đuôi cho lợn để ổn định đàn. Tránh trường hợp khi nuôi với mật độ cao, lợn thường tấn công nhau, vị trí tấn công thường là đuôi. Việc cắt đuôi nên được tiến hành ngay sau đẻ hoặc trong tuần đầu sau đẻ. Dùng kéo sắc cắt sát khấu đuôi, chừa lại 2,5 tới 3 cm. Dùng cồn iot 700 để sát trùng vết cắt. Bấm răng cho lợn con để tránh tổn thương lưỡi của lợn con và có thể gây đau cho lợn mẹ khi cho con bú. Nếu lợn đực không dùng làm giống thì cần thiến trong khoảng 10 – 14 ngày tuổi. * Tiêm phòng Khi lợn con 20 ngày tuổi Tiêm vaccine Samonella 2 – 3 ml/con phòng bệnh phó thương hàn. 45 ngày tuổi Tiêm phòng vaccine dịch tả Từ 60 đến 70 ngày tuổi nên tiêm phòng vaccine tụ huyết trùng và đóng dấu. 8. Cai sữa cho lợn con Thực hiện cai sữa cho lợn con vào lúc 28 ngày tuổi do lợn con mọc răng tiền hàm trên và hàm dưới vào ngày tuổi 22, 23, 24 và 28. Cai sữa cho lợn con cần giảm từ từ, ít nhất sau 3 ngày để tránh hiện tượng sốt sữa trên lợn mẹ và lợn con bị tiêu chảy. Chỉ cai sữa khi lợn con đã quen thức ăn tập ăn. Giảm nhẹ lượng thức ăn của lợn mẹ và lợn con trong 3 – 4 ngày cai sữa đầu tiên để tránh lợn mẹ bị viêm vú, lợn con bị tiêu chảy. Không thay đổi loại thức ăn cho lợn con vào những ngày sau cai sữa ít nhất là 1 tuần, sau đó chuyển dần sang dùng loại cám dành cho lợn con sau cai sữa. Trên đây là những cách chăm sóc lợn con mới đẻ đạt hiệu quả cao. Chúc bà con thành công! Mời bà con theo dõi video Máy băm nghiền đa năng 3A2,2Kw
quy trình chăm sóc lợn con