Trẻ sơ sinh lười bú không những chậm tăng cân mà còn dễ mắc phải nhiều chứng bệnh nguy hiểm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Vì vậy, cha mẹ cần phải tìm hiểu kỹ những nguyên nhân khiến trẻ không chịu bú để có thể giúp bé kịp thời cải thiện vấn đề này. Một số khiếm khuyết không gây ra bất kỳ triệu chứng nào cho đến khi đứa trẻ trưởng thành, vì vậy chẩn đoán và điều trị có thể bị trì hoãn. Trong những trường hợp này, các triệu chứng của khuyết tật tim bẩm sinh mới được phát hiện có thể bao gồm: Hụt hơi Trẻ bị khuyết tật tim bẩm sinh cần được chăm sóc đặc biệt từ những ngày đầu đời. Ngày nay, nhờ những tiến bộ y tế, tỷ lệ sống của trẻ mắc khuyết tật tim bẩm sinh đã tăng lên đáng kể. Khuyết tật tim bẩm sinh có thể được điều trị bằng phẫu thuật, thuốc và một số phương pháp đặc biệt khác. 1. Dấu hiệu giúp mẹ nhận biết trẻ chậm tăng cân và cần bổ sung sữa để cải thiện cân nặng cho con. 2. Tiêu chí chọn sữa công thức dành cho trẻ chậm tăng cân. 3. Gợi ý cho mẹ các loại sữa cho trẻ sơ sinh chậm tăng cân. 3.1. Sữa cho trẻ sơ sinh Glico. 3.2. Việc chẩn đoán nguyên nhân chính xác sẽ giúp cha mẹ kịp thời điều chỉnh, cải thiện sự phát triển của bé. Trẻ tăng cân đủ sẽ phát triển tốt cả vận động lẫn trí não - Ảnh: T.T.D. Theo chuẩn trung bình sáu tháng đầu đời, mỗi tháng bé tăng khoảng 600-800g, sáu tháng Tình trạng chậm tăng cân ở trẻ sơ sinh khiến không ít các ông bố bà mẹ cảm thấy lo lắng. Nếu con bạn cũng gặp phải vấn đề này thì cũng đừng quá bối rối. Bởi bài viết sau đây sẽ chia sẻ đến bạn những cẩm nang bổ ích giúp cải thiện cân nặng cho trẻ sơ sinh bị chậm tăng cân. 4RBO. Trẻ sơ sinh chậm tăng cân có thể khiến bố mẹ lo lắng. Thế nhưng, ít ai biết rằng nguyên nhân khiến bé chậm tăng cân thường rất đơn giản và ít ai để ý. Bạn đang lo lắng vì trẻ sơ sinh tháng đầu tăng cân ít, trẻ sơ sinh tháng đầu tăng 7 lạng, trẻ sơ sinh tháng thứ 2 không tăng cân hay trẻ sơ sinh tháng thứ 3 không tăng cân? Việc bé cưng phát triển chậm hơn so với con nhà hàng xóm là điều khiến không ít các bậc cha mẹ băn khoăn, lo lắng. Thực tế là có rất nhiều yếu tố khiến trẻ sơ sinh tăng cân chậm hay trẻ sơ sinh tăng cân quá ít hơn so với trẻ cùng độ tuổi. Vậy trẻ sơ sinh chậm tăng cân có nguy hiểm không, trẻ sơ sinh chậm tăng cân phải làm sao, trẻ sơ sinh chậm tăng cân nên bổ sung gì và làm sao để bé bú mẹ tăng cân nhanh? Nếu bạn đang có thắc mắc xoay quanh vấn đề trẻ sơ sinh chậm tăng cân thì hãy cùng Hello Bacsi tìm hiểu qua bài viết sau nhé. Dấu hiệu trẻ sơ sinh chậm tăng cân hoặc không tăng cân Cách duy nhất để biết nếu em bé tăng cân hay không là thông qua việc kiểm tra cân nặng ở các buổi khám sức khỏe định kỳ. Bạn cũng nên theo dõi phân, nước tiểu, thói quen bú của con và ghi chú lại. Ngoài ra, một số biểu hiện bé chậm hoặc không tăng cân cũng có thể bao gồm việc bé tỏ ra mệt mỏi, uể oải… Thông thường, từ khi chào đời cho đến khoảng 4 ngày tuổi, cân nặng của trẻ sơ sinh giảm xuống khoảng 5 – 10% so với lúc mới sinh. Nguyên do là bé bị mất nước và dịch của cơ thể khi bé tiểu và đi ngoài. Sau khoảng thời gian này, mức tăng cân của trẻ sơ sinh trung bình của trẻ là khoảng 15 – 28g. Do đó, sau 2 tuần tuổi, cân nặng của bé sẽ nhanh chóng trở lại mức như lúc sinh và có thể khiến mẹ lầm tưởng trẻ sơ sinh không tăng cân trong tháng đầu. Sau sinh khoảng 3 tháng, cân nặng của bé có thể tăng từ 1 – 1,2kg. Càng về sau, mức tăng cân của bé sẽ càng chậm. Từ 3 đến 6 tháng tuổi, mỗi 2 tuần bé tăng khoảng 225g, khi 6 tháng cân nặng của bé sẽ gấp đôi lúc mới sinh. Tuy nhiên, mức tăng cân của trẻ sơ sinh ở mỗi bé là không giống nhau, có bé sẽ tăng nhanh hoặc chậm hơn. Do đó, bạn không cần quá lo lắng nếu cân nặng của bé không xê xích quá nhiều. >>> Bạn có thể xem thêm Nhiệt độ trẻ sơ sinh bao nhiêu là bình thường, bao nhiêu là sốt? 4 nguyên nhân khiến bé sơ sinh chậm tăng cân Có khá nhiều lý do khiến bé không đạt được mức cân nặng như kỳ vọng, bao gồm Triệu chứng Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh tim bẩm sinh là gì? Bác sĩ sẽ phát hiện dị tật tim bẩm sinh khi siêu âm thai, ví dụ như nếu nghe nhịp tim bất thường, bác sĩ có thể tiếp tục tìm hiểu vấn đề này thông qua một số xét nghiệm, bao gồm siêu âm tim, chụp X-quang hoặc chụp MRI. Nếu chẩn đoán được bệnh, bác sĩ mời các chuyên gia tim mạch để hỗ trợ bạn khi sinh. Trong một số trường hợp, các dấu hiệu tim bẩm sinh có thể không xuất hiện cho đến khi trẻ ra đời. Các triệu chứng tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh bao gồm Môi, da, ngón tay, ngón chân tím tái Phù chân, căng da bụng hoặc quanh mắt Khó thở, thở nhanh Bú khó Cân nặng khi sinh thấp Đau ngực Tăng cân chậm. Trong những trường hợp khác, các triệu chứng của dị tật tim bẩm sinh có thể không xuất hiện cho đến nhiều năm sau khi trẻ đã trưởng thành. Các dấu hiệu bệnh tim bẩm sinh ở người lớn có thể bao gồm Nhịp tim bất thường Chóng mặt Khó thở Ngất xỉu Hụt hơi Sưng ở bàn tay, mắt cá chân hoặc bàn chân Mệt mỏi. Khi nào bạn cần gặp bác sĩ? Nếu con bạn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nêu trên hoặc có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ. Cơ địa mỗi người là khác nhau. Vì vậy hãy hỏi ý kiến bác sĩ để lựa chọn được phương án thích hợp nhất. Nguyên nhân Nguyên nhân nào gây ra bệnh tim bẩm sinh? Bệnh tim bẩm sinh là do cấu trúc tim có vấn đề. Các dị tật thường cản trở dòng máu bình thường qua tim và có thể ảnh hưởng đến hô hấp. Trong hầu hết các trường hợp, không có nguyên nhân bệnh tim bẩm sinh chưa được xác định rõ ràng. Bệnh tim bẩm sinh được gây ra khi một thứ gì đó làm gián đoạn sự phát triển bình thường của tim. Người ta cho rằng hầu hết các trường hợp xảy ra khi có điều gì đó ảnh hưởng đến sự phát triển của tim trong 6 tuần đầu của thai kỳ. Đây là khi tim đang phát triển từ một cấu trúc giống như ống đơn giản thành một hình dạng giống như một trái tim đã hình thành hoàn chỉnh. Các yếu tố nguy cơ Tuy nhiên, một số yếu tố sau đây có thể làm tăng nguy cơ mắc tình trạng này, bao gồm Hội chứng Down, một rối loạn di truyền phổ biến có thể gây ra bệnh tim bẩm sinh ở trẻ. Hội chứng Turner, một rối loạn di truyền chỉ ảnh hưởng đến nữ giới; nhiều trẻ em mắc hội chứng Turner sẽ sinh ra với bệnh tim bẩm sinh, thường là một dạng vấn đề về hẹp van hoặc động mạch. Hội chứng Noonan, một rối loạn di truyền có thể gây ra một loạt các triệu chứng tiềm ẩn, bao gồm cả hẹp van động mạch phổi. Người mẹ mắc bệnh tiểu đường mà không được kiểm soát. Người mẹ hút thuốc hoặc uống rượu khi mang thai. Người mẹ bị một số bệnh nhiễm trùng, chẳng hạn như rubella trong khi mang thai Người mẹ dùng một số loại thuốc trong thời kỳ mang thai, bao gồm cả statin và một số loại thuốc trị mụn. Các khuyết tật nhiễm sắc thể khác, trong đó các gen có thể bị thay đổi so với bình thường và có thể được di truyền di truyền trong gia đình. Biến chứng Bệnh tim bẩm sinh có nguy hiểm không? Trẻ em và người lớn mắc bệnh tim bẩm sinh cũng có thể phát triển một loạt các vấn đề khác, chẳng hạn như Chậm tăng trưởng và phát triển Nhiễm trùng đường hô hấp lặp đi lặp lại, chẳng hạn như nhiễm trùng xoang, cổ họng, đường thở hoặc phổi Nhiễm trùng tim viêm nội tâm mạc Tăng huyết áp động mạch phổi Suy tim khi tim không thể bơm đủ máu đi khắp cơ thể một cách hiệu quả. Chẩn đoán và điều trị Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế, vậy nên tốt nhất là bạn hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh? Một số dị tật tim bẩm sinh được chẩn đoán trước khi sinh, khi trẻ còn trong bụng mẹ. Dấu hiệu của một số dị tật tim có thể được nhìn thấy trên siêu âm thai, một xét nghiệm tiền sản định kỳ được sử dụng để kiểm tra sự tăng trưởng và phát triển của em bé trong thai kỳ. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng có thể phát hiện ra các dị tật tim bẩm sinh bằng cách này. Sau khi sinh, chẩn đoán dị tật tim bẩm sinh có thể xảy ra nếu con bạn có biểu hiện da xanh, tím tái hoặc phát triển bất thường. Bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh bằng việc thăm khám, lắng nghe âm thanh bất thường hoặc tiếng thổi tim. Đồng thời, họ cũng có thể yêu cầu tiến hành các xét nghiệm khác, chẳng hạn như Đo oxy xung. Dùng để đo lượng oxy trong máu. Quá ít oxy có thể là dấu hiệu có vấn đề về tim hoặc phổi. Điện tâm đồ ECG hoặc EKG. Xét nghiệm này ghi lại hoạt động điện của tim. Nó có thể giúp chẩn đoán các khuyết tật tim hoặc rối loạn nhịp tim. Siêu âm tim. Siêu âm tim sử dụng sóng âm thanh để tạo ra hình ảnh của trái tim đang chuyển động. Siêu âm tim cho phép bác sĩ nhìn thấy van tim và cơ tim. Siêu âm tim thường được sử dụng để kiểm tra bên trong tim. Các vấn đề về tim đã bị bỏ sót trong quá trình siêu âm tim thai đôi khi có thể được phát hiện khi trẻ đang phát triển. Chụp X-quang phổi. Chụp X-quang phổi để xem tim có lớn hơn bình thường không, hoặc phổi có chứa thêm máu hoặc chất lỏng khác hay không. Đây có thể là dấu hiệu của suy tim. Thông tim. Trong thử nghiệm này, một ống mỏng ống thông được đưa vào mạch máu, thường là ở vùng bẹn, và dẫn đến tim. Đặt ống thông có thể cung cấp cho bác sĩ thông tin chi tiết hơn về chức năng tim và lưu lượng máu. Một số phương pháp điều trị tim có thể được thực hiện trong quá trình thông tim. Chụp cộng hưởng từ tim MRI. Chụp MRI tim là một phương pháp ngày càng phổ biến để chẩn đoán và đánh giá các dị tật tim bẩm sinh ở thanh thiếu niên và người lớn. MRI tim tạo ra hình ảnh 3D của tim, cho phép đo chính xác các buồng tim. Những phương pháp nào dùng để điều trị bệnh tim bẩm sinh? Nhiều người sẽ thắc mắc rằng bệnh tim bẩm sinh có chữa được không? Việc điều trị dị khuyết tim bẩm sinh phụ thuộc vào loại di tật và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Một số trẻ có dị tật tim nhẹ có thể tự lành theo thời gian mà không cần phải điều trị. Những trẻ khác có dị tật nghiêm trọng cần điều trị chuyên sâu. Một số phương pháp dùng để điều trị bệnh bao gồm Thuốc Có nhiều loại thuốc khác nhau giúp tim làm việc hiệu quả hơn. Một số thuốc cũng có thể được sử dụng để ngăn ngừa máu đông hoặc kiểm soát nhịp tim bất thường, chẳng hạn như thuốc huyết áp, thuốc lợi tiểu, thuốc điều hòa nhịp tim. Thiết bị cấy ghép tim Một số biến chứng liên quan đến dị tật tim bẩm sinh có thể được ngăn chặn bằng việc sử dụng một số thiết bị, bao gồm máy điều hòa nhịp tim và máy khử rung tim cấy dưới da. Máy tạo nhịp tim có thể giúp điều hòa nhịp tim bất thường và bác sĩ có thể sửa chữa rối loạn nhịp tim đe dọa tính mạng; Thủ thuật đặt ống thông Phương pháp này cho phép các bác sĩ sửa chữa một số dị tật tim bẩm sinh mà không cần phẫu thuật mở lồng ngực và tim. Trong thủ thuật này, bác sĩ sẽ đưa một ống nhỏ vào một tĩnh mạch ở chân và luồng nó đến tim. Khi ống thông vào đúng vị trí, các bác sĩ sẽ sử dụng các công cụ nhỏ luồng qua ống thông để sửa chữa những dị tật; Phẫu thuật mở tim Đây là loại phẫu thuật có thể cần thiết nếu thủ thuật đặt ống thông catheter không đủ để sửa chữa dị tật tim bẩm sinh. Bác sĩ phẫu thuật có thể thực hiện phẫu thuật tim hở để đóng các lỗ trong tim, sửa chữa van tim hoặc mở rộng các mạch máu; Ghép tim Trong vài trường hợp hiếm khi dị tật tim bẩm sinh quá phức tạp để sửa chữa, bạn sẽ cần cấy ghép tim. Trong phẫu thuật này, tim của trẻ được thay thế bằng một trái tim khỏe mạnh từ người hiến. Phòng ngừa Những biện pháp nào giúp bạn phòng ngừa bệnh tim bẩm sinh? Bạn sẽ có thể giảm khả năng con sinh ra mắc bệnh tim bẩm sinh nếu áp dụng các biện pháp sau Nếu đang có kế hoạch mang thai, hãy nói với bác sĩ về những thuốc bạn đang dùng. Nếu bạn bị tiểu đường, hãy đảm bảo mức đường trong máu đang được kiểm soát trước khi mang thai. Chủng ngừa rubella hay bệnh sởi trước khi mang thai. Nếu có bệnh sử gia đình về bệnh tim bẩm sinh, bạn hãy hỏi bác sĩ về việc sàng lọc di truyền. Nếu bạn đang mang thai, tránh uống rượu và sử dụng ma túy. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất. Phóng toTrẻ tăng cân đủ sẽ phát triển tốt cả vận động lẫn trí não - Ảnh chuẩn trung bình sáu tháng đầu đời, mỗi tháng bé tăng khoảng 600-800g, sáu tháng kế tiếp tăng khoảng 500-700g/tháng. Những năm kế tiếp, trung bình tăng 1,5-2kg/năm. Như vậy, cân nặng trung bình của một bé trai khi sinh nhật lần đầu tiên khoảng 10-11kg và bé gái 9,5-10,5kg. Nếu bé có cân nặng dưới mức chuẩn nêu trên hoặc tốc độ tăng cân mỗi tháng thấp hơn trung bình được xem là chậm tăng cân hoặc nhẹ cân. Nếu quá thấp dưới mức trung bình dễ có nguy cơ suy dinh dưỡng. Nguyên nhân thường gặp Nhiều bé được chăm sóc dinh dưỡng tốt nhưng vẫn chậm tăng cân, có thể do những nguyên nhân phổ biến - Kém hấp thu các chất dinh dưỡng, lý do cơ địa, hoặc mắc một số bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, tiêu hóa... nhiều lần. "Điều trị đặc hiệu càng sớm giúp cho bé nhanh chóng hồi phục và phát triển bình thường về vận động, thể chất và trí não"- Thiếu máu do sinh lý gặp lúc sau sinh khoảng 4-8 tuần, kém hấp thu chất sắt từ chế độ dinh dưỡng, mắc một số bệnh di truyền gây thiếu máu thalassemia thường gặp thể nhẹ, trung bình, thiếu men G6PD, hoặc do nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori và có triệu chứng viêm dạ dày hoặc trào ngược gây nôn sau khi bú thường gặp ở các bé trên 1-2 tuổi. - Nhiễm ký sinh trùng thường gặp sau 2 tuổi, khi bé bắt đầu tự đi lại một mình và biết nhai thức ăn cứng hơn trước bé thường bốc những vật xung quanh cho vào miệng hoặc mút tay. Ngoài ra, cân nặng của bé có thể tăng chậm do những nguyên nhân ít gặp như tim bẩm sinh thông liên thất, thông liên nhĩ, còn ống động mạch..., suy giáp bẩm sinh, rối loạn chuyển hóa và dung nạp các chất đạm, chất béo, chất đường... Giải pháp Thông thường các bác sĩ nhi khoa hoặc bác sĩ dinh dưỡng sẽ cho các bé điều chỉnh chế độ ăn hiện tại. Cố gắng tăng thêm lượng sữa cho bú, thêm dầu ăn, trái cây, bột ăn ngọt và mặn... nếu bé đang ăn giặm. Bé cũng sẽ được ghi toa cung cấp các sinh tố và dưỡng chất cần thiết như sinh tố A, D, B1, B6, B12, axit folic, sắt, kẽm, canxi... Nếu bé trong giai đoạn dưới 6 tháng, năng lượng và dinh dưỡng cung cấp cho bé phụ thuộc chủ yếu vào sữa mẹ hoặc sữa công thức. Trong thời kỳ đang bú mẹ hoàn toàn, và mẹ khỏe mạnh không bị bệnh mãn tính như ung thư, lao phổi, tim mạch, viêm loét dạ dày nặng... nhưng bé chậm tăng cân, thì nguyên nhân phần lớn là do bé bị một căn bệnh bẩm sinh nào đó, phụ huynh cần tham vấn bác sĩ nhi khoa tổng quát hoặc nhi khoa chuyên sâu về tim mạch, huyết học, tiêu hóa... nhiều kinh nghiệm do có thể không chỉ đơn thuần là vấn đề dinh dưỡng. Nếu bé bú mẹ một phần kèm sữa công thức hoặc bú sữa công thức hoàn toàn, nên xem bé có bị dị ứng với sữa bò không sữa công thức chế biến từ sữa của loài bò. Triệu chứng dị ứng bao gồm mẩn đỏ da mặt, tiêu chảy, nôn ói, quấy khóc... sau khi bú sữa công thức. Cần thay đổi loại sữa công thức sớm. Có thể chuyển sang sữa công thức đặc biệt đã loại bỏ những protein gây dị ứng. Nếu bé từ 6 tháng tuổi trở lên, có thể ăn giặm thức ăn ngọt tinh bột và trái cây, rau, củ, quả và mặn chế biến từ thịt, cá, hải sản, trứng.... Giai đoạn này dễ phát hiện bé nào bị dị ứng với thức ăn được cung cấp. Triệu chứng tương tự như trên. Cần hạn chế những thức ăn gây dị ứng cho bé. Đối với những bé bị bẩm sinh như thiếu máu tán huyết bẩm sinh, hoặc tim bẩm sinh... thường bị chựng lại về cân nặng trong thời kỳ này. Nên cho bé tầm soát các bệnh lý tiềm ẩn. - Thử công thức máu, điện di hemoglobin, định lượng sắt và feritine huyết thanh để khảo sát bé có bị thiếu máu không, mức độ và nguyên nhân gây thiếu máu. Nếu bé không thiếu sắt mà thiếu máu do bệnh thalassemia, không nên cho bé uống thuốc bổ có chứa chất sắt, vì không những không cải thiện tình trạng thiếu máu và cân nặng mà còn gây tiến triển bệnh nặng hơn. - Thử chức năng tuyến giáp TSH, T3 tự do và T4 tự do nếu nghi ngờ bé suy giáp thường vàng da ngay sau sinh, tay chân lạnh, ít vận động. - Định lượng men G6PD. Khi mức G6PD huyết thanh thấp hơn bình thường sẽ gây vàng da sau sinh, khi lớn hơn da xanh và dễ bị thiếu máu nặng khi ăn rau dền và củ dền đỏ, đậu ngựa, đậu ván hoặc bôi thuốc xanh methylene nhiều trên da, hoặc uống một số thuốc kháng sinh, hạ sốt chứa paracetamol... Cần lưu ý, rau và củ dền có màu đỏ nhưng không phải là “bổ” máu mà dễ gây hủy máu. - Siêu âm tim để xác định nguyên nhân và mức độ khiếm khuyết của cấu trúc tim... Khi bé trên 1 tuổi, có thể nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori hoặc ký sinh trùng như giun kim, giun đũa, giun lươn.... - Xét nghiệm định lượng kháng nguyên vi khuẩn Helicobacter pylori qua phân hoặc thử nghiệm qua hơi thở. - Soi phân tìm ký sinh trùng đường ruột. Sau khi tìm ra nguyên nhân bệnh lý gây chậm tăng cân, điều trị sớm và hiệu quả sẽ giúp bé tăng cân trở lại. Chậm tăng cân ở trẻ em được chẩn đoán là khi cân nặng hoặc tốc độ tăng cân của trẻ thấp hơn đáng kể so với những đứa trẻ khác ở cùng độ tuổi và giới tính. Tại thời điểm sắp tròn một tuổi, bé 11 tháng chậm tăng cân thường do nhiều nguyên nhân, trong đó, chế độ ăn dặm chưa hợp lý là lý do khá thường gặp. Bé sơ sinh trải qua vài tháng đầu đời phát triển ổn định và tăng cân khá nhanh. Tuy nhiên, khi trẻ chuẩn bị tròn một tuổi, khả năng vận động hoàn thiện hơn là lúc cân nặng của trẻ có khuynh hướng chậm lại. Theo đó, trẻ em chậm tăng cân không được tìm kiếm nguyên nhân và tích cực điều trị sẽ đối mặt với những thách thức lâu dài như phát triển trí não bất thường, chậm phát triển các cột mốc quan trọng tiếp theo và thậm chí là dậy thì muộn khi vào tuổi trưởng biểu đồ tăng trưởng của trẻ, cân nặng trung bình của một em bé 11 tháng tuổi là 8,7 kg 19,2 pound đối với trẻ em gái là 9,4 kg 20,8 pound đối với trẻ em trai. Hầu hết các bé trong giai đoạn này có thể nặng thêm 100 kg mỗi tuần, nhưng khi bé biết đi và trở nên năng động hơn, tốc độ phát triển của bé có thể bắt đầu chậm lại một chút. Vì vậy, cha mẹ có thể thấy em bé 11 tháng tuổi của mình không tăng cân nhanh như trước thế, nhận xét về cân nặng của bé trước khi đưa ra còn phải so sánh với chỉ số cân nặng trẻ đạt được trong tháng trước đó. Nếu có sự tăng lên thì vẫn có thể chấp nhận được, bởi những trẻ đang mắc các bệnh lý cấp tính, bệnh bẩm sinh hay trẻ có tiền sử sinh non, sinh nhẹ cân thì chỉ số cân nhẹ hơn so với các trẻ cùng trang lứa vẫn phần nào có thể được chấp nhận. Ngược lại, nếu ghi nhận đường cong này trở thành một đường thẳng nằm ngang, nhất là khi kéo dài qua vài tháng liên tục, cha mẹ cần đưa trẻ đến tham vấn các bác sĩ nhi khoa hay chuyên khoa dinh dưỡng để được can thiệp kịp thời. Tình trạng bé 11 tháng chậm tăng cân khiến cha mẹ lo lắng 2. Bé 11 tháng chậm tăng cân, vì sao? 3 tình huống có thể khiến bé 11 tháng chậm tăng cân bao gồmLượng calo thấpTrẻ sơ sinh và trẻ em cần lượng calo khác nhau dựa trên độ tuổi, kích thước cơ thể, giới tính, mức độ hoạt động và nhu cầu y tế của chúng. Do đó, khi trẻ 11 tháng rất háo hức cho từng bước đi đầu đời, cung cấp lượng calo thấp có thể khiến bé chậm tăng cân. Vì thế, khi con không ngừng lớn lên, hãy làm theo các hướng dẫn sau để hỗ trợ dinh dưỡng đầy đủTuân theo các dấu hiệu thèm ăn của trẻ Cho trẻ ăn khi trẻ đói. Tránh hạn chế lượng thức ăn của trẻ trừ khi có chỉ định của bác sĩ cũng như tránh các thói quen xấu dễ khiến trẻ biếng phần dinh dưỡng cân đối Thực hiện theo hướng dẫn về cách thức xây dựng một thực đơn cho trẻ 11 tháng chậm tăng cânThiết kế bữa ăn dặm hợp lý Chuyển từ chế độ ăn lỏng hoàn toàn sang thức ăn sệt và đặc là một trong những thử thách đầu đời. Do đó, việc cha mẹ cho bé ăn dặm không đúng cách khiến trẻ bỏ bữa cũng là lý do khiến bé 11 tháng chậm tăng cân. Vì vậy, thay vì thúc ép trẻ ăn, nên thực hiện ăn dặm tự chỉ cầu calo caoMột số điều kiện y tế yêu cầu trẻ tiêu thụ nhiều calo hơn. Ví dụ, bệnh tim bẩm sinh đòi hỏi tim phải bơm nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu của cơ thể và tăng tốc độ trao đổi chất của cơ thể, vì vậy trẻ cần thêm calo để theo kịp nhu cầu tăng đúng như vậy, các bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng sẽ giúp cha mẹ hay người chăm sóc trẻ lập kế hoạch để đáp ứng nhu cầu calo bổ sung theo bệnh lý của trẻ, bao gồmChất bổ sung Các chất bổ sung giàu calo có thể được thêm vào sữa, như sữa công thức hoặc cả sữa mẹ. Trẻ sau 6 tháng và lớn hơn có thể uống đồ uống có hàm lượng calo cao theo khuyến cáo của bác sĩ dinh trọng các bữa ăn nhẹ Đối với trẻ đã biết ăn đạm, các bữa ăn nhẹ trong ngày xen kẽ với các bữa chính cũng là cơ hội để bổ sung calo cho trẻ. Lúc này, nên ưu tiên chọn lựa các loại thức ăn có hàm lượng calo cao như bơ đậu phộng và pho ăn bằng ống Trẻ có nhu cầu dinh dưỡng phức tạp nhưng thể chất hạn chế, khó có thể dung nạp đủ lượng thức ăn thì có thể cần xem xét cho ăn bằng ống qua lỗ mũi / cổ họng hoặc một cổng xuyên qua thành bụng vào trong bụng để bổ sung hoặc thay thế cho việc cho ăn thông điều kiện y tế khácCác tình trạng như bệnh celiac hoặc xơ nang hạn chế mức độ cơ thể hấp thụ chất dinh dưỡng từ thức ăn có thể khiến bé 11 tháng chậm tăng cân. Các tình trạng tiêu hóa như bệnh trào ngược dạ dày thực quản GERD, táo bón mãn tính, dị ứng thực phẩm và bệnh viêm ruột có thể khiến việc ăn uống và đi vệ sinh trở nên khó cạnh đó, các trẻ 11 tháng nghi ngờ mắc phải chứng tự kỷ đôi khi không thích ăn một số loại có kết cấu hoặc mùi vị nhất định, điều này có thể khiến trẻ khó chuyển sang thức ăn đặc. Một số trẻ khác có thể chỉ muốn ăn một loại thực phẩm, chẳng hạn như trái cây hoặc chỉ khoai tây chiên. Lúc này, cha mẹ cố gắng khuyến khích thói quen ăn uống tốt hơn bằng cách thay đổi kết cấu cắt nhỏ hoặc xay nhuyễn hoặc cho trẻ ăn theo lịch trình hay cho trẻ tham gia quá trình chuẩn bị bữa ăn nhằm tăng kích thích thèm ăn cho với trẻ em gặp trở ngại về dinh dưỡng có thể cần bổ sung vitamin cho trẻ để có đủ lượng chất xơ, kẽm, canxi, sắt và các chất dinh dưỡng khác trong chế độ ăn uống của trẻ. Bác sĩ nhi khoa hay chuyên gia dinh dưỡng sẽ thiết kế nhu cầu dinh dưỡng riêng của từng trẻ. Cần xây dựng thực đơn cho bé 11 tháng chậm tăng cân hợp lý 3. Làm cách nào để cải thiện tình trạng bé 11 tháng chậm tăng cân? Việc điều trị tình trạng chậm tăng cân ở bé 11 tháng hay nặng hơn là bệnh suy dinh dưỡng phụ thuộc vào thể trạng của từng trẻ, các triệu chứng liên quan và lý do cơ bản khiến trẻ tăng trưởng kém. Mục tiêu chung của việc điều trị là cung cấp đầy đủ calo và bất kỳ sự hỗ trợ cần thiết nào khác để thúc đẩy sự phát triển của trường hợp trẻ không phát triển được cơ thể, có thể cần chẩn đoán và điều chỉnh tình trạng bệnh lý tiềm ẩn. Ví dụ, rối loạn đường ruột có thể gây ra tình trạng kém hấp thu trong chế độ ăn uống và sẽ khiến trẻ không phát triển được như bình thường. Trong trường hợp này, một thực đơn cho trẻ 11 tháng chậm tăng cân đặc biệt có thể là cần trạng chậm tăng cân ở trẻ nhỏ cũng có thể xảy ra trong các trường hợp sinh đôi hoặc sinh ba, đơn giản vì sinh nhiều con khó chăm sóc hơn và đòi hỏi công sức nhiều hơn khi cho các trẻ ăn uống. Trẻ có tiền căn sinh non có nhiều khả năng không phát triển được hoàn thiện như các trẻ cùng trang lứa vì nhiều chức năng cơ thể cần thiết để hấp thụ và tiêu hóa thức ăn thích hợp còn non nớt khi mới sinh. Các vấn đề về phổi hoặc bệnh tim, đặc biệt là ở trẻ nhỏ, có thể làm cho việc bú khó khăn hơn và dẫn đến lượng calo kém và không thể phát lại, chậm tăng cân là một khái niệm thường được sử dụng cho những trẻ không phát triển và tăng trưởng bình thường. Nói chung, bé 11 tháng chậm tăng cân thường có nguyên nhân là chế độ ăn dặm chưa cung cấp đủ calo trong khi nhu cầu năng lượng không ngừng tăng để đáp ứng sự phát triển các kỹ năng thể chất theo từng ngày. Theo đó, biết các lý do tiềm ẩn nêu trên, nhất là xây dựng thực đơn cho trẻ 11 tháng chậm tăng cân hợp lý, cân nặng của trẻ sẽ mau chóng cải thiện và bắt kịp cùng bạn bè khi bước vào năm thứ hai của cuộc chậm tăng cân, kém hấp thu, chậm phát triển cha mẹ nên bổ sung cho trẻ các sản phẩm hỗ trợ có chứa lysine, các vi khoáng chất và vitamin thiết yếu như kẽm, crom, selen, vitamin nhóm B giúp đáp ứng đầy đủ nhu cầu về dưỡng chất ở trẻ. Đồng thời các vitamin thiết yếu này còn hỗ trợ tiêu hóa, tăng cường khả năng hấp thu dưỡng chất, giúp cải thiện tình trạng biếng ăn, giúp trẻ ăn ngon miệng. Cha mẹ có thể đồng thời áp dụng việc bổ sung chất qua đường ăn uống và các thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ tự nhiên để bé dễ hấp thụ. Điều quan trọng nhất là việc cải thiện triệu chứng cho bé thường phải diễn ra trong thời gian dài. Việc kết hợp nhiều loại thực phẩm chức năng cùng lúc hoặc thay đổi liên tục nhiều loại trong thời gian ngắn có thể khiến hệ tiêu hóa của bé không kịp thích nghi và hoàn toàn không tốt. Vì vậy cha mẹ phải thực sự kiên trì đồng hành cùng con và thường xuyên truy cập website để cập nhật những thông tin chăm sóc cho bé hữu ích nhé. XEM THÊM Cách giữ sức khỏe cho trẻ trong mùa đông? Chăm sóc trẻ an toàn khi học tại nhà trong mùa dịch Tập cho trẻ ăn thức ăn lành mạnh Nhìn bé Chanh San Vi Sal 4,5 tháng tuổi, dân tộc Khơ-me tươi tỉnh hồng hào, bú ngoan trong vòng tay mẹ, không ai nghĩ trước đó 3 ngày bé phải trải qua ca phẫu thuật tim phức tạp. Chiến binh nhỏ với cân nặng chưa đầy 6kg đã vượt chặng đường hơn 200 cây số đến bệnh viện Tâm Anh mang theo hy vọng chữa lành trái tim để có cơ hội trưởng thành, khỏe mạnh và đi học như các bạn cùng trang lứa. Chị Chanh Sóc Thia dân tộc Khơ-me, ngụ An Giang cho biết, sau sinh hơn một tháng, bé Chanh San Vi Sal có biểu hiện chững lại, không tăng cân. Bé thường hay thở nhanh, khò khè kéo dài, đổ mồ hôi đầu nhiều, bú chậm và ngắt quãng. Chị đưa bé đi khám hô hấp thì bất ngờ khi bác sĩ báo bé bị tim bẩm sinh vì bé sinh ra khá bụ bẫm, cân nặng 3,4kg và gia đình không có ai mắc bệnh này. Sau 5 năm mong con, niềm vui chưa trọn thì phát hiện con bệnh. Anh chị từ đó bỏ hết công việc để đưa con lên chạy chữa. Mỗi lần đi khám, cả nhà chở nhau trên xe máy đi từ 3h sáng, chạy liên tục tới khoảng 9-10h để kịp khám và quay trở về trong ngày. Nhưng hơn 2 tháng đi về, bé vẫn chưa được phẫu thuật. Thấy con ngày càng bú kém, sụt cân, chị Sóc Thia lo lắng đưa bé đến bệnh viện Tâm Anh Phạm Thục Minh Thủy, khoa Tim bẩm sinh, Trung tâm Tim mạch cho biết, bé Sal đến khám với biểu hiện thở nhanh, vã mồ hôi, nhịp tim nhanh, bú kém, suy dinh dưỡng. Lúc này bé gần 4,5 tháng tuổi nhưng cân nặng chỉ 5,7kg. Kết quả siêu âm tim cho thấy, bé có lỗ thông liên thất lớn với buồng tim trái dãn, lưu lượng máu lên phổi tăng và áp lực động mạch phổi trung bình lên đến 41 mmHg cao gấp 2-3 lần bình thường. Đồng thời, bé còn có tình trạng tăng sinh mô đường thoát thất phải đường dẫn máu từ thất phải lên động mạch phổi kèm lá van động mạch phổi dày và mở hạn chế làm tăng thêm chênh áp qua van động mạch phổi. Tuy nhiên, hẹp phổi này không đủ bảo vệ phổi bé vì luồng thông liên thất quá lớn. Thêm vào đó, bé có bất thường bẩm sinh hiếm gặp của van hai lá Hammock valve với sự tăng sinh cột cơ và dây chằng van hai lá ngắn dẫn đến hạn chế hoạt động của lá van sau. Cùng với đó là vòng van hai lá cũng bị dãn do buồng thất trái dãn vì thông liên thất lớn nên càng làm hở van hai lá nhiều hơn. “Bé cần phẫu thuật trước 6 tháng tuổi. Nếu để qua thời điểm vàng’ thì khả năng hồi phục sẽ kém hơn, thậm chí không thể can thiệp được nữa do do tổn thương mạch máu phổi không hồi phục”, bác sĩ Thủy nói. Phạm Thục Minh Thủy khám cho bé Vi Sal để đánh giá tình trạng sức khỏe trước khi mổ. Hội chẩn toàn Trung tâm Tim mạch với sự tham gia của đội ngũ bác sĩ Tim bẩm sinh, Phẫu thuật Tim và Hồi sức Tim mạch diễn ra ngay sau đó để quyết định phương thức điều trị và chuẩn bị tốt nhất cho cuộc mổ. Ngay sau đó, bé Sal được nhập viện và nhanh chóng được phẫu thuật Nguyễn Minh Trí Viên, Cố vấn Phẫu thuật tim, Trung tâm Tim mạch cùng êkip tiến hành vá lỗ thông liên thất, sửa lại đường máu lên phổi và sửa van hai lá cho bệnh nhi. Sau hơn 2 giờ, ca phẫu thuật kết thúc thành công. Kết quả siêu âm tim qua thực quản kiểm tra trước khi khâu vết mổ cho thấy, lỗ thông liên thất được vá kín, không còn hẹp đường thoát thất phải, áp lực động mạch phổi giảm và tình trạng hở van hai lá cải thiện đáng kể. Bác sĩ Viên cho biết, bé Vi Sal bị suy dinh dưỡng nặng và cùng lúc mang nhiều bất thường ở tim, trong đó nghiêm trọng nhất là tăng áp phổi và suy tim. Điều này đòi hỏi êkip phải chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị cho cuộc mổ như hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể cùng với đội ngũ phẫu thuật viên, gây mê hồi sức dày dặn kinh nghiệm mổ tim nhi. Bé được gây mê kết hợp gây tê mặt phẳng cơ dựng sống ESP giảm đau sau mổ. Ca phẫu thuật diễn tiến thuận lợi trong thời gian không quá dài, rút ngắn thời gian chạy hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể, giúp bệnh nhi cai máy thở sớm. Bé Vi Sal rời phòng hồi sức sau 3 ngày và khỏe mạnh xuất viện sau một tuần. Bé tiếp tục được theo dõi sức khỏe định kỳ bởi bác sĩ khoa Tim bẩm sinh, Trung tâm Tim mạch. Bé Vi Sal 4,5 tháng tuổi khỏe mạnh, không đau sau 3 ngày mổ tim hở. Theo bác sĩ Thủy, dấu hiệu bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh có thể biểu hiện bằng viêm hô hấp tái đi tái lại, khò khè, hoặc ăn bú kém, chậm lên cân nên dễ nhầm lẫn với các bệnh hô hấp, tiêu hóa khác. Do đó, đôi khi trẻ được phát hiện bệnh tim tình cờ khi kiểm tra trước tiêm chủng hoặc đi khám vì bệnh lý khác. Khi con có biểu hiện như thở nhanh, thở khò khè, bú ít, bú ngắt quãng, cữ bú kéo dài, hay vã mồ hôi, tay chân lạnh, chậm tăng cân, xanh xao…; hay tím môi, đầu ngón tay-chân, tăng nặng khi khóc, ba mẹ cần đưa trẻ đi khám chuyên khoa Tim mạch Nhi để được chẩn đoán và can thiệp kịp thời. “Triệu chứng của bệnh tim bẩm sinh có thể từ kín đáo đến biểu hiện rõ như suy tim, tím nặng,… nên bất cứ khi nào có dấu hiệu nghi ngờ cần đưa trẻ đi khám và tầm soát bệnh để được chẩn đoán đúng và điều trị phù hợp nhằm tránh những biến chứng nặng hoặc chậm trễ trong điều trị”, bác sĩ Thủy nhấn mạnh. Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, nhờ hệ thống máy siêu âm tim 4D, đầu dò cao cấp chuyên dụng, một số dị tật tim bẩm sinh có thể được phát hiện sớm trong thai kỳ. Thai nhi mắc bệnh tim bẩm sinh sẽ được bác sĩ Sản – Tim mạch Nhi – Sơ sinh phối hợp theo dõi chặt chẽ đến khi chào đời, chăm sóc tích cực sau sinh và chọn thời điểm phẫu thuật thích hợp. Ngoài ra, trẻ sinh tại đây cũng được bác sĩ đo độ bão hòa oxy qua da SpO2 trong vòng 24-48h sau sinh kết hợp siêu âm tim với trẻ có yếu tố nguy cơ để sàng lọc bệnh tim bẩm sinh. Để đặt lịch khám, tư vấn, tầm soát và điều trị bệnh tim bẩm sinh tại Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách vui lòng liên hệ Bài viết được tham vấn chuyên môn với Bác sĩ khoa Nhi - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park. Theo thống kê, cứ trẻ được sinh ra thì có 8 trẻ mắc tim bẩm sinh. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, bệnh có thể gây ra những ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe sau này, thậm chí có nguy cơ gây tử vong. Bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em hay dị tật tim bẩm sinh là những dị dạng ở tim xảy ra từ khi còn trong bào thai. Do cấu trúc tim bị khiếm khuyết khiến chức năng và hoạt động của tim bị ảnh hưởng, tuần hoàn máu trong cơ thể hoạt động bất tim bẩm sinh ở trẻ em là dạng dị tật bẩm sinh thường gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của các ca dị tật bẩm sinh. Hiện nay, nhờ kỹ thuật siêu âm, dị tật tim bẩm sinh có thể được phát hiện ở tuần thứ 18 của thai kỳ. 2. Hai nhóm bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em Bệnh tim bẩm sinh tím Tứ chứng Fallot là bệnh thường gặp nhất trong nhóm tim bẩm sinh tím với biểu hiện điển hình da tím tái do máu không được cung cấp đủ dưỡng chứng Fallot thường gặp với 4 dạng khiếm khuyết ở tim Hẹp đường thoát thất phải, thông liên thất, động mạch chủ “cưỡi ngựa” lên vách liên thất và phì đại thất phải. Biểu hiện bệnh xuất hiện vào khoảng 4 - 6 tháng sau sinh. Tứ chứng Fallot thường đi kèm một số bệnh liên quan đến việc đột biến nhiễm sắc thể như bệnh Down, hở hàm ếch... Bốn tổn thương của Tứ chứng Fallot Bệnh tim bẩm sinh không tím Bệnh tim bẩm sinh không tím thường gặp hơn và có mức độ nguy hiểm thấp hơn so với bệnh tim bẩm sinh tím, bao gồm thông liên thất, thông liên nhĩ, hẹp eo động mạch chủ, hẹp van động mạch chủ hoặc phổi bẩm sinh...Nhiều trường hợp trẻ mắc dị tật này không được phát hiện ở giai đoạn mới sinh do không có những triệu chứng cụ thể. Nếu trẻ có các biểu hiện Khóc ít hơn bình thường, không đủ sức để bú sữa, chậm phát triển thể chất, nặng hơn là là khó thở và thở nhanh, trẻ có nguy cơ bị suy tim. Một số trẻ lớn lên mới xuất hiện các triệu chứng bệnh. 3. Nguyên nhân nào bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em Bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em có nhiều nguyên nhân, nhưng phần lớn các ca bệnh rất khó để xác định nguyên nhân cụ thể. Theo nghiên cứu, tim bẩm sinh có thể do một số nguyên nhânDo di truyềnDi truyền là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành dị tật bẩm sinh ở trẻ, đặc biệt là các dị tật về tim. Trẻ có bố, mẹ hoặc người thân trong gia đình bị tim bẩm sinh sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Trường hợp bố mẹ mang gen bệnh, dù không bị tim bẩm sinh thì sinh con vẫn có khả năng mắc bệnh nhiễm độc thaiTrong quá trình mang thai, nếu mẹ sử dụng một số loại thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ, hoặc sử dụng kích thích như rượu, bia, ma túy thì trẻ sinh ra dễ bị dị tật tim bẩm sử dụng chất kích thích trong thời gian mang thai có thể khiến con mắc tim bẩm sinhBên cạnh đó, người mẹ tiếp xúc với tia X-quang, chất phóng xạ,... hoặc sống trong môi trường độc hại cũng có thể bị nhiễm độc thai kỳ, dẫn đến dị tật bẩm sinh cho con. Mẹ sử dụng chất kích thích trong thời gian mang thai có thể khiến con mắc tim bẩm sinh Mẹ nhiễm bệnh trong thời gian mang thaiMẹ nhiễm các virus Herpes, Rubella, Cytomegalo,... trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ sẽ khiến trẻ dễ mắc các dị tật, đặc biệt là bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em. Mẹ bị đái tháo đường, Lupus ban đỏ trong thời gian mang thai cũng có thể đến những biến chứng nguy hiểm, khiến trẻ có nguy cơ bị dị tật tim bẩm hiệu nhận biết sớm bệnh tim bẩm sinh ở trẻ emBiểu hiện tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh bao gồm Khó thở, thở nhanh, thở co lõm, bú ít và ngừng nghỉ liên tục khi bú được vài tháng tuổi trở lên sẽ có biểu hiện rõ rệt hơn Thường xuyên ho, thở khò khè và hay bị viêm ra, trẻ có thể có một số biểu hiện đi kèm như thể chất chậm phát triển, da xanh xao, môi và đầu ngón chân, ngón tay chuyển màu tím khi trẻ tật tim bẩm sinh có thể đi kèm với các bệnh liên quan đến việc đột biến nhiễm sắc thể như Down, sứt môi, thiếu hoặc thừa ngón chân... Những trường hợp này cần được theo dõi đặc biệt để sớm phát hiện và điều trị những dị tật về tim bẩm sinh nếu có một số trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh nhưng không có biểu hiện rõ rệt và chỉ tình cờ được phát hiện khi trẻ được đưa đi kiểm tra sức khoẻ hoặc đi khám bệnh khác. 4. Ba phương pháp điều trị bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em Đặt ống thông tim là thủ thuật chữa bệnh tiên tiến với nhiều ưu điểm Trẻ mắc dị tật tim bẩm sinh nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng cách vẫn có thể phát triển bình thường. Bác sĩ sẽ lên phác đồ điều trị tùy thuộc vào tình trạng bệnh của trẻ. Thông thường, có 3 phương pháp điều trịSử dụng thuốc đặc trịĐối với tim bẩm sinh thể nhẹ, sức khoẻ và sự phát triển của trẻ không bị ảnh hưởng nhiều và chưa cần thiết phải phẫu thuật, bác sĩ sẽ kê một số loại thuốc điều hòa và ổn định nhịp tim. Đây là phương pháp chữa bệnh nhẹ nhàng và ít tác động đến trẻ thiệp tim mạch thông timCác bác sĩ sẽ đưa một ống nhỏ và dài qua các mạch máu ở ngoài dẫn vào trong tim giúp việc lưu thông máu dễ dàng hơn, đồng thời có thể đưa vào đó các thiết bị theo dõi, hỗ trợ đóng các lỗ thông trong tim trong trường hợp cần pháp này có nhiều ưu điểm vượt trội như không phải mở xương ức, giảm nguy cơ gây nhiễm khuẩn, thời gian hồi phục nhanh... tuy nhiên chi phí cao và chỉ áp dụng điều trị được cho một số dị tật như thông liên thất, hẹp van động mạch chủ, hẹp van động mạch phổi...Tim mạch can thiệp là phương pháp chữa bệnh tiên tiến với nhiều ưu điểmPhẫu thuật timTrường hợp không thể thông tim can thiệp thì các bác sĩ sẽ tiến hành phẫu thuật để đóng các lỗ thông, mở rộng chỗ hẹp động mạch phổi, sữa hẹp eo động mạch chủ... Hiện nay, đã có phương pháp mổ tim nội soi ít xâm lấn giúp giảm đau đớn, giảm chảy máu, hồi phục nhanh, ít để lại sẹo. Đối với những ca bệnh nặng và không thể điều trị bằng phương pháp khác thì các bác sĩ sẽ đề xuất phương án cấy ghép tim cho người viện Vinmec Central Park đã thực hiện hầu hết các phương pháp điều trị cho bệnh nhân tim bẩm sinh, từ các bệnh đơn giản cho đến các phương pháp mổ tim phức tạp nhất. Trung tâm đã thành công hơn 200 ca trong phẫu thuật các bệnh nhân tim bẩm sinh < 5kg và mắc các dị tật rất phức tạp Hoán vị đại động mạch, thất phải 2 đường ra, thân chung động mạch, đứt đoạn cung động mạch chủ... nhờ vào các trang thiết bị chẩn đoán hiện đại, phòng mổ và phòng thông tim hybrid cũng như đội ngũ y bác sĩ kinh nghiệm, chuyên môn cao. Đặc biệt kỹ thuật gây tê ESP thay thế morphin trong mổ tim hở sẽ giúp bệnh nhân không đau trong suốt quá trình mổ tim và hồi phục sau hàng có thể trực tiếp đến hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc để thăm khám hoặc liên hệ hotline tại đây để được hỗ Chăm sóc trẻ bị tim bẩm sinh như thế nào?Bởi những đặc thù về thể chất, trẻ bị tim bẩm sinh luôn cần được quan tâm và chăm sóc đặc tiêm vắc xin đầy đủ và khám sức khỏe định kỳ vô cùng quan trọng, giúp trẻ phát hiện sớm các nguy cơ gây bệnh để chủ động phòng hết trẻ mắc dị tật tim bẩm sinh có thể sinh hoạt và tham gia các hoạt động vui chơi bình thường. Tuy nhiên, các môn hoạt động mạnh hoặc thi đấu đối kháng không phù hợp với trẻ bị bệnh. Những hoạt động thể chất ở mức độ vừa phải như bơi lội, đạp xe, đi bộ, chơi cầu lông,... sẽ giúp trẻ năng động và khỏe mạnh có nhu cầu tư vấn và thăm khám tại các Bệnh viện thuộc hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc, Quý khách vui lòng đặt lịch trên website để được phục vụ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Việc khám sức khỏe định kỳ rất cần thiết đối với trẻ bị bệnh tim bẩm sinh Bị tim bẩm sinh Khi nào không phải mổ? XEM THÊM Thai 25 tuần có dịch ở màng tim, ổ bụng có nên giữ không? Những dấu hiệu con bị tim bẩm sinh, cần đi khám bác sĩ ngay Bệnh tim mạch - P1 Triệu chứng

trẻ bị tim bẩm sinh chậm tăng cân